Đất Thủ Thiêm

Bút ký của Võ Đắc Danh

Hôm nay thấy cộng đồng mạng, đặc biệt là những bạn đồng nghiệp bày tỏ sự bất bình đối với hình thức kỷ luật những cán bộ liên quan đến tội ác thủ thiêm, đặc biệt là hình thức “phê bình ” ông Tất Thành Cang, lão nông xin đăng lại bút ký Đất Thủ Thiêm để góp phần làm rõ sự tương phản giữa nỗi đau hàng chục năm của bà con nơi đây và hình thức xử lý những kẻ đã làm nên tội ác. Có thể nói, đây là một bút ký dài nhất, được thực hiện kỳ công nhất trong cuộc đời cầm bút của lão nông, và không ít lần phải rơi nước mắt trên bàn phím.

 Võ Đắc Danh

*

Nhố nhăng

Suốt bao nhiêu tháng, họp hành chán chê, cuối cùng Thành ủy TP.HCM (thông qua Ủy ban Kiểm tra) ra được cái kết luận nhẹ hều phê bình Tất Thành Cang.

Mà chối tỉ bỏ mẹ, trong kết luận chỉ ghi “Ông Tất Thành Cang – Thành ủy viên, Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo công trình lịch sử TP.HCM, nguyên Giám đốc Sở Giao thông vận tải”. Tay Cang này vi phạm nghiêm trọng cả khi nó là Phó bí thư thường trực Thành ủy, sao lại cố tình lờ đi, giấu ém đi cái chức vụ quan trọng ấy?
Nói thẳng, qua vụ này, tôi càng coi ông bí thư Nhân chả ra gì, chỉ làm trò, đánh bóng là giỏi, không có tí bản lĩnh, thực chất cách mạng nào. Tôi hỏi ông, bênh cho thằng Cang, dây dưa xử lý nó, ông có được nó trả cho thùng trái cây nào không mà nhố nhăng thế.

Lại còn mấy ông trung ương lúc nào cũng đốt lò tôn không có vùng cấm nữa, các ông để sứ quân nó tự tung tự tác coi thường kỷ cương phép nước như vậy mà im, hay im lặng là… vàng hở.

Nguyễn Thông

*

THẾ NÀY LÀ THẾ NÀO. ANH NHÂN?

Theo Ban Thường vụ Thành ủy thành phố HCM, ông Tất Thành Cang có khuyết điểm, vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật, nhưng do đến nay đã hết thời hiệu xử lý kỷ luật đảng nên Ban chấp hành Đảng bộ thành phố thống nhất kết luận hình thức… phê bình.

Ông Tất Thành Cang, Thành ủy viên, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Công trình Lịch sử TP.HCM, nguyên Giám đốc Sở GTVT.

Các chức cựu Ủy viên Trung ương Đảng khoá XII; Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh của Cang đã làm cho Cang vi phạm kỷ luật không thấy ghi ở đâu?

Hà Phi

*

Sự khốn nạn với Nước, với Dân có thể hết thời hiệu với đảng nhưng với Dân thì không

Không!

Cho nên các cụ từ xửa xưa đã dặn:

Trăm năm bia đá thì mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Tất Thành Cang cùng bè lũ của Cang gây ra bao khốn cùng cho Dân Thủ Thiêm, gây thất thoát mấy chục ngàn tỷ của Dân, đảng bảo “hết thời hiệu kỉ luật ” nên chỉ … phê bình.

Kiểu như học trò đi muộn cô giáo phê bình, nhắc nhở: lần sau em đừng đi muộn nữa nhé!

Nhưng Dân coi đó là tội ác.

Đảng phủi phủi bụi, vuốt má… có đau bằng Dân chửi không?

Lãnh đạo đảng tp HCM chả lẽ muốn chia rẽ ý đảng lòng Dân?

Lưu Trọng Văn

*

I: GIẤC NGỦ BA TRĂM NĂM

Tôi đã bỏ ra một thời gian để sưu tầm tài liệu liên quan đến lịch sử vùng đất Thủ Thiêm, nhưng hầu như không tìm thấy tư liệu nào để có thể gọi là “bề dầy lịch sử” của vùng đất nầy ngoài một vài trận chiến thời kỳ nhà Nguyễn cùng với những cuộc di dân cũng từa tựa như những cuộc di dân trên vùng đất phương Nam. Song, điều đáng ngạc nhiên mà chưa thấy nhà nghiên cứu nào lý giải rằng vì sao chỉ cách trung tâm Sài Gòn có vài ba trăm mét bởi một con sông mà Sài Gòn – ngay từ khi chiếm được Nam kỳ, người Pháp đã muốn biến Sài Gòn thành Hòn Ngọc Viễn Đông để cạnh tranh với các nước thuộc địa của Anh trong khu vực. Những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, dọc theo bờ sông Sài Gòn, cùng với thương cảng Bến Nghé, Bạch Đằng, hàng loạt công trình nguy nga đã được mọc lên trên đường Catinat (Đồng Khởi), Kênh Lớn (Nguyễn Huệ), Kênh Xáng (Hàm Nghi)… rồi đến nhà thờ Đức Bà, nhà hát Lớn, chợ Bến Thành… Sài Gòn đã trở thành thủ phủ của Đông Dương. Nhưng bên kia sông, cách Sài Gòn chỉ vài ba trăm mét, Thủ Thiêm như một vùng đất bị lãng quên.

Continue reading

Posted in Cướp đất của dân, Thủ Thiêm | Leave a comment

Một ngày vui…

Đỗ Trung Quân


2012, khi làm việc với tôi, tay thượng tá an ninh phụ trách tờ Sài Gòn Tiếp Thị nơi khi ấy tôi công tác hỏi “Tại sao anh bất mãn?”. Tôi cười đính chính, này đồng chí thượng tá vô cùng yêu mến, hàng chục năm qua tôi đi đâu cũng có người đón tiếp, tôi ngồi ghế giám khảo trên truyền hình gần 90 triệu dân xem, làm MC những chương trình lớn vừa có danh vừa có tiền, đóng phim có người hâm mộ, đi đâu cũng có người xin chữ ký, vào toilet công cộng người giữ toilet cũng cho miễn phí, rượu luôn có anh em mọi miền mời, tiệc tùng quán xá liên miên… tôi thuộc thành phần được ưu đãi, cá nhân tôi có gì mà bất mãn, nhưng mở lỗ tai mà nghe cho rõ này, chính những cách các anh hành xử với những người tử tế, đàn áp, đánh đập những thanh niên nhiệt huyết trên mặt đường, bôi nhọ, vu khống những người có nhân cách, có tri thức khi họ có thái độ bảo vệ xứ sở, đất nước bị ngoại bang uy hiếp, chính các anh chứ không ai khác đã đẩy tôi về phía họ. Vì thế tôi minh xác tôi PHẢN KHÁNG chứ không bất mãn…

Không lâu sau tôi được tin tay thượng tá an ninh bị kỷ luật luân chuyển đi đâu đó tôi không gặp lại nữa đến tận hôm nay.

Continue reading

Posted in Bản chất thể chế | Leave a comment

Dịch thuật và lựa chọn

Phạm Thị Hoài

Hai ngày sau bài phát biểu kịch liệt chống Trung Quốc của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo hôm 23/7/2020 tại Thư viện Tổng thống Richard Nixon, VnExpress rồi nhiều trang báo đầu đàn khác ở trong nước, như VTC, đồng loạt đăng cùng một bản dịch tiếng Việt, nhưng một ngày sau lại đồng loạt rút xuống[1]. Chủ đề “bài phát biểu dậy sóng” này vẫn hiện diện trên truyền thông chính thống ở Việt Nam, song chỉ còn là đề cập gián tiếp qua tóm tắt hay trích dẫn chọn lọc từ báo chí nước ngoài. Tất cả những động tác đó không có gì lạ và đã thành thông lệ, thậm chí là truyền thống của báo chí nhà nước; nhưng muốn thế nào, mỗi ca kiểm duyệt kể một câu chuyện và câu chuyện lần này đáng lưu ý vì những tình tiết sau đây.

Bác Trung, bảo Cộng

Ở điểm trũng nhất của quan hệ Mỹ-Trung sau không ít thăng trầm kể cả Thiên An Môn, bài phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ lần này gây ngạc nhiên không phải vì sự gay gắt, mà vì nó chĩa mũi dùi vào sự cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như ý thức hệ cộng sản, và nói thẳng không một chút úp mở rằng đó là nguồn gốc tất yếu, không thể làm ngơ nữa của hiểm họa Trung Quốc đối với Hoa Kỳ và thế giới tự do.

Đó là điều mà các chính quyền Hoa Kỳ, bất kể Dân chủ hay Cộng hòa, cho đến nay ít nhiều đều tránh đề cập.

Việt Nam hiển nhiên lâm vào thế kẹt, Bắc Kinh trước sau vẫn là hình mẫu cầm quyền cho Hà Nội dựa vào và noi theo, hệ tư tưởng cộng sản ở Việt Nam trước sau vẫn là quốc đạo. 31 lần ông Pompeo gọi tên “cộng sản”, bản dịch tiếng Việt giữ lại đúng 2 lần, đổi cả nhan đề và loay hoay xoay xở để có thể vừa truyền đạt tương đối những chỉ trích với Trung Quốc, vừa bảo toàn đảng cộng sản và chế độ cộng sản, để tránh những sự kiện gắn liền với chính sách đàn áp khét tiếng của chính quyền cộng sản, và để bỏ qua xung đột thể chế giữa hai mô hình độc tài cộng sản và dân chủ tự do.

Chỗ nào biến hóa được thì biến hóa: những người Duy Ngô Nhĩ “trốn khỏi các trại tập trung ở Tân Cương” thành “rời khỏi Tân Cương”, những người “sống sót ở Quảng trường Thiên An Môn” thành “từng có mặt trong sự kiện Thiên An Môn”, Tập Cận Bình “độc tài cai trị” thành “điều hành”, thách thức từ Trung Quốc đòi hỏi nỗ lực và năng lượng “từ các nền dân chủ” thành “từ nhiều quốc gia”, Đài Loan “vẫn nở rộ thành một nền dân chủ cường tráng” thành Đài Loan “vẫn phát triển”…

Continue reading

Posted in Truyền thông cộng sản | Leave a comment

Hãy coi chừng súng ống tháng Tám – ở Châu Á

Làm thế nào để giữ cho các căng thẳng Mỹ-Trung không bùng lên thành chiến tranh

(BEWARE THE GUNS OF AUGUST – IN ASIA

How to Keep U.S-Chinese Tensions From Sparking a War – Foreign Affairs 3-8-2020)

Kevin Rudd

Dịch và chú giải [cả trong móc vuông]: Một thân hữu của viet-studies

            Chỉ trong vài tháng ngắn ngủi, mối quan hệ Mỹ-Trung dường như đã trở lại thời kỳ ban sơ hơn hồi trước đây. Tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông một lần nữa lại được ca ngợi vì đã táo bạo tham chiến chống Mỹ ở Triều Tiên, chiến đấu với họ tới một cuộc đình chiến. Tại Mỹ, Richard Nixon bị cáo buộc vì đã tạo ra một Frankenstein toàn cầu bằng cách đưa Trung Quốc cộng sản ra thế giới rộng lớn hơn. Cứ như thể nửa thế kỷ quan hệ Mỹ-Trung trước đây chưa từng diễn ra vậy.

Sự đe dọa tấn công hay trừng phạt từ cả Bắc Kinh lẫn Washington đã trở nên ầm ĩ, không khoan nhượng và dường như không có hồi kết. Mối quan hệ ấy chao đảo từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác – từ việc đóng cửa các lãnh sự quán tới những ngón ngoại giao ‘chiến lang’ gần đây nhất của Trung Quốc cho đến những lời kêu gọi các quan chức Mỹ lật đổ Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Tốc độ và cường độ của cái đó thảy đã làm tê bì ngay cả những nhà quan sát dày dạn kinh nghiệm đối với quy mô và tầm quan trọng của thay đổi trong nền chính trị cao cấp của mối quan hệ Mỹ-Trung. Được kéo neo ra khỏi các giả định chiến lược của 50 năm trước mà chẳng có chỗ dựa vào bất kỳ khuôn khổ được đồng thuận chung nào để thay thế chúng, thế giới giờ đây thấy mình đang ở thời điểm nguy hiểm nhất trong mối quan hệ ấy kể từ các cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan những năm 1950s.

Câu hỏi đang được đặt ra giờ đây, lặng lẽ nhưng đầy âu lo tại các thủ đô trên khắp thế giới là điều này rồi sẽ kết thúc ở đâu? Kết cục một thời không thể tưởng tượng được – xung đột vũ trang thực tế giữa Mỹ và Trung Quốc – giờ đây xuất hiện, có thể là lần đầu tiên kể từ khi kết thúc Chiến tranh Triều Tiên. Nói cách khác, chúng ta đang đối mặt với viễn cảnh không chỉ là một cuộc Chiến tranh Lạnh mới mà còn cả là một cuộc chiến nóng nữa.

Các rủi ro sẽ đặc biệt cao trong vài tháng quan trọng từ giờ cho đến cuộc bầu cử tổng thống Mỹ tháng Mười Một, khi cả tổng thống Mỹ, Donald Trump, và chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, đối đầu, và khai thác sự giao thoa lộn xộn của chính trị trong nước, các đòi hỏi an ninh quốc gia và quản lý khủng hoảng. Quan điểm chính trị trong nước ở cả hai nước đều đã hóa ra độc hại. Danh sách các điểm xích mích thì dài, từ gián điệp mạng và vũ khí hóa đồng dollar cho đến Hongkong và Biển Đông. Các kênh đối thoại chính trị và quân sự cấp cao đã teo tóp lại khi chúng cần thiết nhất. Và cả hai tổng thống/chủ tịch đều phải đối mặt với các áp lực chính trị nội bộ có thể khiến họ kéo giật cái đòn bẩy dân tộc chủ nghĩa.

Trong môi trường này, cả Bắc Kinh và Washington nên suy ngẫm về lời khuyên răn ‘hãy thận trọng với những gì bạn muốn’. Nếu họ thất bại trong việc làm thế, ba tháng tới cả thảy có thể dễ dàng làm tổn hại đến triển vọng hòa bình và sự ổn định quốc tế trong 30 năm tới. Các cuộc chiến giữa các cường quốc, bao gồm cả những bên vô tình, hiếm khi kết thúc tốt đẹp – cho bất kỳ ai.

NHỮNG CHUYỂN DỊCH QUYỀN LỰC

Nhiều yếu tố đã đưa mối quan hệ ấy đến trạng thái bấp bênh hiện tại của nó. Một số thì có tính cấu trúc, những cái khác thì trực tiếp hơn. Cơ bản nhất là sự cân bằng đang đổi thay về sức mạnh quân sự và kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc. Do mẫu hình tăng trưởng kinh tế và quân sự thất thường của Mỹ, sự phân tâm chiến lược quá dài của Mỹ ở Trung Đông và các tác động tích lũy của cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009, Bắc Kinh đã kết luận rằng họ có nhiều quyền tự do hơn trong luồn lách theo đuổi các lợi ích của mình. Xu hướng này đã tăng lên dưới thời Tập, người mà kể từ khi lên nắm quyền năm 2013 đã chuyển chính trị và kinh tế của đất nước sang tả, đẩy chủ nghĩa dân tộc sang hữu và áp dụng chiến lược quyết đoán hơn ở nước ngoài, cả ở tầm khu vực lẫn toàn cầu.

Mỹ đã phản ứng với vị thế đang thay đổi này của Trung Quốc với mức độ gây hấn ngày càng tăng. Chính sách đã tuyên bố của nó đã làm rõ rằng 35 năm tham dự chiến lược [với Trung Quốc] đã kết thúc và một kỷ nguyên cạnh tranh chiến lược mới, vẫn còn chưa được xác định đầy đủ đã bắt đầu. Về mặt ngoại giao, nó [Mỹ] đã mở ra một cuộc tấn công nhân quyền đối với Hongkong, Đài Loan và Tân Cương. Nó đã phát động một cuộc chiến thương mại, công nghệ và nhân tài, và cả sự khởi đầu của một cuộc chiến tài chính nữa. Và các lực lượng vũ trang của cả hai nước đã tham gia vào một trò chơi xô đi đẩy lại ngày càng gây hấn trên mặt biển khơi, trên không và trên không gian mạng.

Trong khi chiến lược của Tập đã rõ ràng, chiến lược của Trump vẫn cứ hỗn loạn như phần còn lại của nhiệm kỳ tổng thống của ông ta. Nhưng tác động chung cuộc là một mối quan hệ bị chia tách của sự cô lập chính trị, kinh tế và ngoại giao đã được nuôi dưỡng một cách cẩn thận trong nửa thế kỷ qua và suy biến xuống hình thức thô thiển nhất của nó: một cuộc đấu tranh không giới hạn cho sự thống trị song phương, khu vực và toàn cầu.

Trong mùa hoạt động chính trị hiện nay, các áp lực trong nước đang có ở cả Bắc Kinh và Washington khiến cho việc xử lý khủng hoảng trở nên khó khăn hơn. Ở Trung Quốc, một nền kinh tế đã chậm lại, tác động vẫn tiếp tục của cuộc chiến thương mại, và bây giờ là cuộc khủng hoảng COVID-19 đã đặt sự lãnh đạo của Tập dưới áp lực nội bộ lớn nhất từ trước tới nay. Nhiều người trong ĐCSTQ bực tức với chiến dịch chống tham nhũng tàn bạo của ông ta, mà một phần được sử dụng để loại bỏ kẻ thù chính trị. Việc cải tổ quân đội rộng lớn của ông ta đã gặp phải sự kháng cự từ hàng trăm ngàn cựu chiến binh thua thiệt. Mức độ đối lập mà Tập phải đối mặt được thể hiện qua số lượng lớn các thay đổi nhân sự chính mà ông ta đã tạo ra trong hệ thống phân cấp của đảng về tình báo, an ninh và quân đội. Và đó là từ trước ‘chiến dịch chỉnh đốn đảng’ mà ông ta đã phát động vào tháng Bảy để cho ra rìa những kẻ chống đối và củng cố quyền lực của mình.

Continue reading

Posted in Biển Đông, Mỹ - Trung | Leave a comment

Nhắc lại bài viết 1 năm trước – ĐỂ KHÔNG ĐI NGƯỢC VỚI XU THẾ. ĐỂ KHÔNG MỘT MÌNH MỘT ĐƯỜNG

Nguyễn Ngọc Chu

Liên minh không phải là phạm trù vĩnh cửu. Có thể vào liên minh rồi lại ra khỏi liên minh. Liên minh ngắn hạn. Liên minh dài hạn. Liên minh đầy đủ. Liên minh không đầy đủ. Liên minh song phương. Liên minh đa phương. Nhưng đây là giai đoạn Việt Nam phải chọn liên minh.

Không thể không có đồng minh

1. Trong thời đại tích hợp toàn cầu như ngày nay, không một quốc gia nào có thể đứng một mình riêng biệt. Mạnh cũng phải liên minh. Yếu cũng phải liên minh. Lớn cũng phải liên minh. Bé cũng phải liên minh.

2. Mạnh thì tự mình thành hạt nhân của liên minh. Yếu thì trở thành thành viên của liên minh. Vì thế mà hình thành các cực.

Đó là thuận theo quy luật tự nhiên. Như mặt trời là trung tâm của thái dương hệ, với các vệ tinh: thủy tinh, kim tinh, quả đất, hỏa tinh, mộc tinh, thổ tinh, thiên vương tinh, hải vương tinh. Đến lượt mình, thái dương hệ là thành viên của ngân hà. Còn ngân hà là một thiên hà trong vô vàn thiên hà của vũ trũ vô biên không đầu không cuối.

3. Vũ trụ biến đổi không ngừng. Các thành viên vũ trụ không ngừng thay đổi: sinh rồi diệt, diệt rồi sinh. Các cực trong vũ trụ vì thế cũng không ngừng đổi thay.

Xã hội loài người không thể thoát ra ngoài quy luật của tạo hóa. Thời thế đổi thay thế nước cũng thay đổi. Nước mạnh rồi cũng suy yếu. Nước yếu cũng có thời trở nên mạnh. Các liên minh hợp rồi tan. Các cực tan rồi xuất hiện.

4. Thuận theo tạo hóa thì không thể một mình đứng riêng. Cho nên, mạnh như nước Mỹ cũng phải liên minh, giỏi như người Đức, người Nhật, người Pháp cũng không dại gì đứng một mình trong thế giới đa cực.

Đến như nước Nga hiện thời, tự mình đã mạnh thành một cực. Nhưng vẫn bị rơi vào thế yếu mà phải nhắm mắt liên minh tạm thời với một đồng minh không tin cậy và đồng thời cũng là kẻ đối địch tiềm tàng như Trung quốc. Để thấy không nước nào không có đồng minh. Không liên minh nào là vĩnh viễn.

5. Việt Nam không đủ sức hút để tự mình trở thành trung tâm cực thì Việt Nam chắc chắn phải bị hút mạnh hơn vào một cực nào đó. Việt Nam không thể đứng một mình. Đứng một mình không rơi vào một hệ nào là đi ngược với quy luật của tạo hóa.

Continue reading

Posted in Liên minh | Leave a comment

Cộng sản Việt Nam với người hiền tài

Nguyễn Đình Cống

Cộng sản Nga đã từng dùng được nhiều hiền tài mà có sức mạnh quân sự và khoa học vũ trụ. Cộng sản Tàu nhờ thu hút được nhiều hiền tài mà phát triển được đất nước. Cộng sản Việt cũng rất muốn thu hút và sử dụng hiền tài, nhưng không thể nào làm được.

Câu “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” được đại đa số người Việt biết chứ chẳng riêng gì trí thức và lãnh đạo. Không riêng gì đảng viên cao cấp mà mọi người đều biết vai trò rất quan trọng của cán bộ (quan chức, lãnh đạo). Tình hình sẽ rất khác nhau khi cán bộ là tinh hoa hay là những kẻ cơ hội.

Ngày 31/7 Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị “Gặp mặt đại biểu trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ” nhân kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng. Tại đây, ông Thường trực Ban bí thư phát biểu rằng: “Chúng ta xin dành sự tôn kính và biết ơn sâu nặng đến các nhà trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ đã cống hiến, hy sinh trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của toàn dân tộc“. Và một chỗ khác ông nói: “Đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, các nhà khoa học là sức mạnh của Đảng”.

Lãnh đạo CSVN nói được, viết được nhiều nghị quyết về bồi dưỡng và sử dụng nhân tài, nhưng không cách gì tìm được, không thể nào dùng được những người thực sự có tài năng trong công cuộc xây dựng đất nước. Vì sao vậy?

Nguyên nhân chủ yếu là họ nhất nhất học theo Tàu cộng, nhưng Tàu cộng dạy đểu cho họ mà họ không phát hiện ra, bị lừa. Từ đó làm cho ở cấp cao không có người thực sự có tài năng để biết dùng những người tài khác, rồi họ lại vạch ra đường lối cán bộ có nhiều sai lầm. Đường lối đó phạm phải những điều phản dân chủ, phản tiến bộ, phản khoa học trong cách bầu cử, đề bạt và cả trong tiêu chuẩn để lựa chọn. Thế mà họ và những kẻ bồi bút ra sức ca tụng đường lối đó. Họ ca ngợi vì kém trí tuệ, kiêu ngạo, bảo thủ, giáo điều, một mặt tự bưng tai, bịt mắt, không chịu suy nghĩ, mặt khác bị Tàu cộng o bế, khống chế.

Ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, với lời kêu gọi yêu nước, Cộng sản VN có thu hút được một số nhân tài. Nhưng rồi từ khi lệ thuộc vào Tàu cộng, bị chúng nó xui dục, huấn luyện, lừa bịp, khống chế mà đã phạm phải hết sai lầm này đến sai lầm khác, làm hủy hoại đến hủy diệt đội ngũ tinh hoa của dân tộc. Đây là một trong những tội ác hàng đầu của CS đối với dân tộc.


Continue reading

Posted in Nhân sự thể chế, Nhân tài | Leave a comment

Kiến nghị bảo vệ quyền hành nghề luật sư

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 04 tháng 8 năm 2020

ĐƠN KIẾN NGHỊ

(Đề nghị có biện pháp bảo vệ quyền hành nghề luật sư)

Kính gửi:

– Liên đoàn luật sư Việt Nam

Chúng tôi gồm: Những người có tên trong danh sách dưới đây.

Là các luật sư có ý thức trách nhiệm trước cộng đồng khách hàng và trách nhiệm với nghề nghiệp, chúng tôi cùng nhất trí kiến nghị Liên đoàn Luật sư Việt Nam có biện pháp bảo vệ quyền hành nghề luật sư như sau:

Vấn đề thứ nhất:

Hiến pháp năm 2013 tại Điều 31, khoản 4 quy định: Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Tại Điều 103 khoản 7 quy định: Quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm.

Nhưng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, một văn bản pháp lý cấp thấp hơn Hiến pháp lại có quy định hạn chế lược bớt một phần quyền bào chữa của bị can, bị cáo tại Điều 74 như sau: Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện Kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Về bản chất Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự như trên là trái với quy định của Hiến pháp.


Continue reading

Posted in Luật sư và Tòa án CS | Leave a comment

Nhân việc thành lập “nghiệp đoàn độc lập” nhìn lại những quy định về việc thành lập hội của nhà nước VN qua dự thảo luật Hội

TK Tran

Đầu tháng 7 vừa qua một thông báo cho biết một nghiệp đoàn độc lập nhằm bảo vệ quyền lợi của công nhân ra đời [1; 2].

Chưa ai biết rõ những người cầm đầu là ai, thực chất của nghiệp đoàn này ra sao, song sự kiện này có lẽ sẽ mở đầu cho sự xuất hiện một loạt nghiệp đoàn độc lập khác, nằm trong khuôn khổ thỏa thuận của nhà nước VN với EU trong hiệp ước thương mại EVFTA [3].

Quan điểm của nhà nước VN đối với việc thành lập những Hội Đoàn tương tự như thế nào?

VN chưa ban hành chính thức luật Hội. Từ năm 2006 khi dự thảo đầu tiên được “trình làng”, luật Hội được sửa chữa tới, sửa chữa lui, tới nay hơn chục lần, nhưng nhà nước vẫn chưa hài lòng. Tháng 10 năm 2016, chính phủ lại đề nghị Quốc hội lui việc bàn thảo và chuẩn y luật Hội. Từ đó tới nay dự thảo vẫn chưa được sửa đổi hoặc bàn thảo lại.

Bài viết này kiểm điểm lại cái nhìn của nhà nước với Hội qua dự thảo luật cuối cùng để đánh giá cơ may của sự thành lập các nghiệp đoàn độc lập thực sự.

Dự thảo luật Hội, phiên bản 27.10.2016 [4]

1- Nguyên tắc quan trọng nhất của nhà nước là phải nắm chắc sự kiểm soát các Hội Đoàn:

Điều 7 Chương 1 viết rằng “nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền lập Hội của công dân VN”, song không quên kèm thêm điều kiện “phải theo đúng quy định của Hiến pháp”, có nghĩa là phải công nhận sự lãnh đạo của đảng CS. Quan trọng hơn, cần lưu tâm nhiều hơn là điều 4 dự thảo Hội: “Hội… góp phần thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước…”. Có nghĩa là nhà nước không buông lỏng sự kiểm soát Hội Đoàn.

2- Các phương thức của nhà nước để kiểm soát Hội Đoàn:

– Rào cản hành chính: Giấy chứng nhận đăng ký, giấy công nhận điều lệ Hội, giấy công nhận người đứng đầu Hội

Không như ở các nước dân chủ, nơi mà nhà nước chỉ cần được thông báo về việc thành lập Hội, ở VN Hội Đoàn muốn được hoạt động thì trước hết phải được nhà nước cho phép thông qua việc cấp “Giấy chứng nhận đăng ký thành lập”, việc “công nhận điều lệ và người đứng đầu Hội” (điều 4, điều 5). Không có những giấy phép này thì không được hoạt động.

– Loại bỏ cá nhân sáng lập Hội đang nằm trong “tầm nhắm“ của nhà nước:

Điều 8 viết rằng những người bị kết án tù có thời hạn không được thành lập Hội. Không những thế, ngay cả những người “đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, có nghĩa là mới bị lên án, chưa có án chính thức, trên nguyên tắc còn vô tội cũng bị cấm thành lập Hội. Điều này cản trở việc lập Hội của những nhà hoạt động dân chủ đã một lần bị bắt hay đang bị nhà nước xét xử.

Continue reading

Posted in EVFTA, Tự do lập hội | Leave a comment

Biển Đông: Phát hiện Mỏ Kèn Bầu ‘lớn nhất’ lịch sử, VN có lo TQ can thiệp?

Mỹ Hằng – BBC News Tiếng Việt


Ngành dầu khí Việt Nam vừa công bố phát hiện một mỏ dầu khí – Mỏ Kèn Bầu – được cho là lớn nhất trong lịch sử của ngành trên Biển Đông.

Kế hoạch khai thác mỏ này như thế nào? Và liệu rằng Việt Nam có nguy cơ lại bị Trung Quốc đe dọa đến mức phải từ bỏ việc phát triển mỏ khí này?

Chuyên gia Việt Nam và nhà điều hành ENI (Ý) trong ngày phát hiện dầu khí tại Mỏ Kèn Bầu

BBC News Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Lê Minh, chuyên gia tư vấn chiến lược và thị trường, thành viên Hội đồng Biên tập và Phản biện Tạp chí Năng lượng Việt Nam, quanh các vấn đề này.

BBC: Được biết vừa qua ngành dầu khí Việt Nam mới đây công bố việc phát hiện ra mỏ Kèn Bầu với trữ lượng dầu khí rất lớn. Ông có thể cho biết về phát hiện này?

Ông Nguyễn Lê Minh: Mỏ Kèn Bầu nằm trong Lô Dầu khí 114, hiện do công ty điều hành dầu khí ENI Vietnam BV làm nhà điều hành thông qua Hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC). Trong PSC tại liên doanh ENI Viet Nam BV thì ENI (Ý) nắm 50% cổ phần và ESSAR E&P Limited (Ấn Độ) nắm giữ 50% cổ phần trong giai đoạn tìm kiếm thăm dò.

Theo PetroVietnam, tháng 5/2019, nhà điều hành thực hiện giếng khoan thăm dò thứ nhất, 114 KB-1X. Đến 29/2/2020, họ bắt đầu giếng khoan thẩm lượng thứ hai, 114 KB-2X, đến 29/7/2020 thì kết thúc (khoan 150 ngày).

Kết quả thử vỉa cả hai giếng khoan này, cho thấy tiềm năng trữ lượng khí rất lớn, ước tính từ 7 đến 9 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên (Tcf), tương đương 200 đến 255 tỷ mét khối khí tại chỗ và khoảng từ 400 đến 500 triệu thùng khí ngưng tụ (condensate).

Nếu các bước đánh giá phân cấp trữ lượng tiếp theo bảo lưu kết quả này, hoặc gần với kết quả này, thì đây là phát hiện lịch sử và là mỏ khí lớn nhất tính đến hiện tại của ngành dầu khí Việt Nam.

PetroVietnam cho hay có thể trong thời gian tới sẽ khoan thêm một vài giếng nữa trong Mỏ Kèn Bầu.

BBC: Kế hoạch khai thác mỏ này như thế nào? Hợp tác với những đối tác nào?

Ông Nguyễn Lê Minh: Hiện các bên chưa có kế hoạch cụ thể vì kết quả trên đây mới chỉ là ước tính trữ lượng tại chỗ trong quá trình khoan thẩm lượng, phải qua các bước tiếp theo như đánh giá, lập báo cáo trữ lượng thì mới ra kết quả chính thức. Sau đó, mới công bố phát hiện thương mại để đi vào giai đoạn phát triển khai thác.

Tuy nhiên, từ tiềm năng như trên thì cơ cấu hoạt động có thể sẽ tương tự như ở mỏ Cá Voi Xanh. Theo đó, dự kiến, Mỏ Kèn Bầu có thể đưa vào phát triển khai thác từ năm 2028, gồm có ba lĩnh vực.

Lĩnh vực thượng nguồn, theo hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC) lô 114, cơ cấu cổ phần hiện tại là ENI 50% và ESSAR 50%. Sau khi công bố thương mại, PetroVietnam sẽ tham gia vào PSC với tỷ lệ cổ phần là 20%.

Lĩnh vực trung nguồn và hạ nguồn, sẽ có sự tham gia của các công ty thành viên PVN như Tổng công ty khí (PVGas), Tổng công ty điện lực dầu khí (PVPower) và đối tác mua điện là Tập đoàn điện lực (EVN).

Đối với trung nguồn, do đây là mỏ khí và condensate nên PVGas sẽ tham gia xây dựng và điều hành đường ống dẫn khí về bờ đến nhà máy xử lý khí, sau đó phân phối khí cho các nhà máy điện, khu công nghiệp và khí thương phẩm bán ra thị trường.

Đối với hạ nguồn ở các nhà máy điện, PVN sẽ tham gia trực tiếp hoặc liên doanh, hoặc giao cho PVPower làm chủ đầu tư đối với ở ba hoặc bốn nhà máy điện.

Nếu tương tự mỏ Cá Voi Xanh, các hoạt động từ thượng, trung và hạ nguồn sẽ được tính trong vòng đời 20 năm hoặc 25 năm vận hành và khai thác thương mại, khởi đầu năm 2028.


Continue reading

Posted in Biển Đông, Dầu mỏ | Leave a comment

Tại sao Việt Nam không nên phát triển điện hạt nhân bằng mọi giá?

Lê Hồng Hiệp


Đến cuối năm 2019, tổng công suất phát điện lắp đặt của Việt Nam là 54,88 GW, bao gồm điện than (33,2%), thủy điện lớn (30,1%), dầu khí (14,8%), và thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo (20,3%). Việt Nam hiện đặt mục tiêu tăng gấp đôi công suất lên 130 GW vào năm 2030. Trong một kịch bản được trình bày tại hội thảo, Viện Năng lượng dự kiến tổng công suất lắp đặt của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng sau đó và có thể đạt mức 268 GW vào năm 2045.

Như vậy, nếu Việt Nam đạt công suất điện hạt nhân là 5 GW vào năm 2045, thì công suất này chỉ chiếm 1,9% tổng công suất lắp đặt dự kiến của Việt Nam vào thời điểm đó – một tỷ lệ không đáng kể.

Tại một hội nghị vào tháng trước về Quy hoạch Điện VIII ( 2021-2030) do Bộ Công Thương tổ chức, các chuyên gia Viện Năng lượng, cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch phát triển năng lượng ở Việt Nam, đã đề xuất đưa điện hạt nhân vào cơ cấu năng lượng của Việt Nam sau năm 2040. Cụ thể, Viện dự kiến năng lượng hạt nhân sẽ đóng góp 1 gigawatt (GW) điện cho Việt Nam vào năm 2040 và 5 GW vào năm 2045.

Đến cuối năm 2019, tổng công suất phát điện lắp đặt của Việt Nam là 54,88 GW, bao gồm điện than (33,2%), thủy điện lớn (30,1%), dầu khí (14,8%), và thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo (20,3%). Việt Nam hiện đặt mục tiêu tăng gấp đôi công suất lên 130 GW vào năm 2030. Trong một kịch bản được trình bày tại hội thảo, Viện Năng lượng dự kiến tổng công suất lắp đặt của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng sau đó và có thể đạt mức 268 GW vào năm 2045.


Continue reading

Posted in Điện hạt nhân | Leave a comment