“Khóc một dòng sông”

Nguyễn Tuấn Khoa

Giờ Vạn Vật Học lớp Đệ Lục (1972), khi giảng về sông Cửu Long thầy tôi nói: Đó là con sông hùng vĩ, thượng nguồn ở Trung Quốc (TQ) chảy qua 5 nước. Sông có 9 nhánh đổ ra Biển Đông, giống như 9 con rồng phun nước tại cửa 9 cửa sông.

Thầy nói, thật ra sông Cửu Long chỉ có 8 nhánh! Do số 9 là số may mắn trong văn hóa Phương Đông nên người ta phải cố gán thêm một nhánh cho đủ 9. Đó là nhánh Ba Thắc rất nhỏ, đang bị bồi lấp.

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/03/1-5.jpg

Vị trí cửa sông Cửu Long. Nguồn: Ảnh chụp từ Google map

Như một định mệnh trớ trêu, gần nửa thế kỷ sau bài giảng đó, nhánh Ba Thắc rồi thêm nhánh Ba Lai đã thành dòng sông chết. Hai con rồng đã về trời! Sông Cửu Long tám nhánh nay chỉ còn bảy. Thất Bát! Con số này như một điềm gỡ cho một vùng châu thổ buồn.

Lịch sử Châu Thổ sông Cửu Long (CTSCL) là một cuộc giành giật giữa sông và biển trong hàng ngàn năm. Lúc biển tiến, cả vùng ngập trong biển; lúc biển thoái, sông mạnh mẽ đẩy lùi biển ra đại dương… Để giờ đây nơi gặp gỡ giữa Cửu Long và Biển Đông đã tạo nên một vùng châu thổ trù phú với đa dạng sinh học bậc nhất trên thế giới.

Dòng Mekong hùng vĩ bao đời nay đã cần mẫn tải ngọc phù sa nuôi sống gần 70 triệu người trên toàn lưu vực 800 cây số vuông. Ở cuối nguồn, hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang đã tạo nên vựa lúa lớn và một nền văn hóa đặc sắc với 17 triệu cư dân. Bỗng chốc tất cả trở nên suy tàn.

Hạn mặn 2016 đã lên đến Cần Thơ, vượt mức chịu đựng của dân ĐBSCL. Hạn mặn 2020 còn khốc liệt hơn nhiều. Nếu lấy mức mặn 4 phần ngàn là ngưỡng sống còn của cây lúa thì nước mặn từ Biển Đông đã vào sâu hơn 80 km nhưng nếu lấy mức mặn 0.5 phần ngàn cho nước uống thì mặn đã chạm đến hầu hết các nhà máy nước toàn vùng. Ngày mặn lên tới nhà máy nước Châu Đốc rồi Nam Vang sẽ không còn xa nữa.

Continue reading

Posted in Mekong, Sông Mékong, Đồng bằng sông Cửu Long | Leave a comment

Các chế độ chuyên chế coi đại dịch Covid-19 là cơ hội để tăng cường quyền lực

Selam Gebrekidan

Vũ Quốc Ngữ dịch

Tại Hungary, thủ tướng hiện có thể cai trị bằng sắc lệnh. Ở Anh, bộ trưởng có quyền bắt giữ người dân và đóng cửa biên giới. Thủ tướng Israel đã đóng cửa tòa án và bắt đầu giám sát công dân. Chile đưa quân đội đến các quảng trường công cộng từng bị người biểu tình chiếm đóng. Bôlivia đã hoãn bầu cử.

Khi đại dịch coronavirus khiến thế giới ngừng hoạt động và người dân lo lắng đòi hỏi phải hành động, các nhà lãnh đạo trên toàn cầu đang gia tăng quyền lực hành pháp và nắm giữ quyền lực gần như độc tài với sự phản đối yếu ớt.

Chính phủ và các nhóm nhân quyền đồng ý rằng ở những thời điểm khẩn cấp này đòi hỏi các biện pháp đặc biệt. Chính phủ cần quyền lực mới để đóng cửa biên giới, kiểm dịch và theo dõi những người bị nhiễm bệnh. Nhiều hành động trong số này được các quy tắc quốc tế bảo hộ, luật sư về hiến pháp nói.

Nhưng các nhà phê bình nói rằng một số chính phủ đang sử dụng cuộc khủng hoảng y tế cộng đồng để che giấu việc tiếm quyền mới chẳng liên quan đến sự bùng phát của dịch bệnh trong khi chỉ chẳng có biện pháp bảo đảm quyền lực mới này sẽ không bị lạm dụng.

Các đạo luật khẩn cấp đang được thực thi ở nhiều hệ thống chính trị – ở các quốc gia độc tài như Jordan, các nền dân chủ đang thụt lùi như Hungary và các nền dân chủ truyền thống như Anh. Và có gần như không điều khoản đảm bảo quyền lực mới sẽ bị thu hồi một khi dịch bệnh qua đi.

Fionnuala Ni Aolain, Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về chống khủng bố và nhân quyền cho biết, chúng ta có thể có một dịch bệnh song song với các biện pháp độc đoán và đàn áp.

Khi các luật mới mở rộng sự giám sát của nhà nước, cho phép các chính phủ giam giữ người dân vô thời hạn và vi phạm các quyền tự do hội họp và biểu đạt, chúng cũng có thể định hình cuộc sống dân sự, chính trị và kinh tế trong nhiều thập kỷ tới.

Continue reading

Posted in Coronavirus, Virus Trung Quốc, Virus Vũ Hán | Leave a comment

Hiểm họa từ đợt dịch thứ hai ở Trung Quốc

FB Đặng Sơn Duân

Trung Quốc hiện lo ngại đợt dịch thứ hai sẽ ùa đến, đẩy nước này quay trở lại tình trạng cách ly xã hội như hơn hai tháng qua. Hiện có vài diễn biến lo ngại từ phản ứng của Trung Quốc cho thấy đợt dịch thứ hai có thể đã thấp thoáng.

Khác với đợt đầu, đợt dịch thứ hai nếu bùng phát có thể đẩy căng thẳng xã hội, chính trị, kinh tế ở Trung Quốc lên đến tột cùng vì sức chịu đựng của người dân cũng như mâu thuẫn trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc vượt quá giới hạn.

Điều này sẽ tác động đến tính toán của Trung Nam Hải, thúc đẩy Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nung nấu ý định chuyển lửa ra ngoài và đoàn kết nội bộ đảng bằng cách gây ra một cuộc khủng hoảng lớn ở khu vực, như là khủng hoảng eo biển Đài Loan, khủng hoảng Hoa Đông (Senkaku/Điếu Ngư) hoặc khủng hoảng Biển Đông.

Nhiều diễn biến trong thời gian qua cho thấy Trung Quốc đang dịch chuyển thái độ theo hướng hung hăng, không ngại khiêu khích hơn ở cả ba khu vực trên.

Tại Hoa Đông vừa mới xảy ra vụ tàu cá Trung Quốc mà thực chất là tàu dân quân biển vỏ thép đâm tàu hải quân Nhật Bản.

Continue reading

Posted in Coronavirus, Virus Trung Quốc, Virus Vũ Hán | Leave a comment

Biển Đông và cách nó biến thành lãnh thổ của Trung Quốc “theo lịch sử”, kể từ năm 1975

(The South China Sea and How It Turned into “Historically” Chinese Territory in 1975)

Johannes L. KURZ (Bandar Seri Begawan)

Phan Văn Song dịch

Một trong những bài viết sớm nhất trình bày “bằng chứng lịch sử” cho hiểu biết và hành động lâu đời của Trung Quốc (TQ) về các nhóm đảo ở Biển Đông đã xuất hiện trên tờ Renmin ribao (Nhân dân nhật báo 人民日报) vào ngày 25 tháng 11 năm 1975 có tựa đề là “Nam hải chư đảo tự cổ tựu thị ngã quốc lãnh thổ” 南海诸岛自古就是我国领土 (Các đảo ở Biển Đông từ xưa là lãnh thổ của chúng ta). Việc Nhân dân nhật báo đăng bài báo này phản ánh lập trường chính thức của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) và khuyến khích nỗ lực của học giả TQ trong việc chứng minh tính xác thực của các yêu sách lịch sử ở Biển Đông. Bài báo này có ảnh hưởng sâu sắc đến các diễn đạt chính trị và học thuật trong tương lai trong việc tom góp các đảo ở Biển Đông vào lãnh thổ TQ. Để cho thấy bài viết của “Shi Dizi” (Sử lệ tổ 史棣祖) thiết lập “thẩm quyền lịch sử” đối với các đảo ở Biển Đông như thế nào [1], tôi sẽ xem xét kĩ lưỡng một số nguồn của nó một cách chi tiết dưới đây. Điều này đặc biệt thích hợp vào thời điểm Hoa Kì đang thực thi quyền tự do đi lại (FONOP) ở Biển Đông ở mức độ thường xuyên [2] và khi một lượng lớn giao thương toàn cầu đi qua khu vực này [3]. Thêm vào đó, cộng đồng quốc tế đã bác bỏ các yêu sách của CHNDTH ở Biển Đông. Cuối cùng là Tòa Trọng tài Thường trực tại The Hague vào tháng 7 năm 2016 đã ra phán quyết rằng TQ không có “quyền lịch sử” ở Biển Đông như tuyên bố của TQ năm 2009 qua việc nộp một công hàm có bản đồ Đường 9 đoạn (cửu đoạn tuyến 九段线) [4]. Việc xem xét lại quá trình này, bắt đầu bằng vụ Philippines kiện CHNDTH vào năm 2013, bắt đầu [tiến hành] vào năm 2015. Phán quyết này ngay lập tức đã bị CHNDTH bác bỏ qua việc một lần nữa nói rằng lịch sử vẫn là một luận cứ hậu thuẫn quyền sở hữu của TQ đối với Biển Đông [5].

SCS_DisputedClaims.JPG

Bản đồ 1 Các bên yêu sách Biển Đông

(Bản đồ của tác giả chưa cập nhật, thay băng bản đồ của ND)

Mở đầu

Vào tháng 1 năm 1974, quân giải phóng (PLA) TQ đã giành quyền kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa (Xisha qundao: Tây Sa quần đảo) với việc đánh bại lực lượng Nam Việt Nam đóng tại đó [6]. Sau đó, từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1974 Bảo tàng tỉnh Quảng Đông (Quảng Đông tỉnh bác vật quán 广东省博物馆) và Cục Văn hóa Khu hành chính Hải Nam (Hải Nam hành chính khu văn hoá cục 海南行政区文化局) đã cử một nhóm nhà nghiên cứu đến khảo sát lãnh thổ mới chiếm được. Khi tìm thấy một số đồ vật như tiền đồng và gốm sứ TQ họ bèn kết luận rằng “quần đảo Tây Sa từ xưa đã là lãnh thổ thiêng liêng của TQ” (Tây Sa quần đảo tự cổ dĩ lai tựu thị TQ đích thần thánh lãnh thổ 西沙群岛自古以来就是中国的神圣领土). Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu chợt bắt gặp một tài liệu (sổ đi biển (thuỷ lộ bạ 水路簿)) thuộc sở hữu của ngư dân Su Deliu (Tô Đức Liễu 苏德柳) ở Đàm Môn 潭门 phía đông đảo Hải Nam [7] có ghi chép các tuyến đường đi thuyền đến các đảo và có nói đến các đảo và bãi cạn theo tiếng địa phương Đàm Môn [8]. Thú vị là kết quả của cuộc điều tra này được ba bài báo ở Hồng Kông – chứ không phải ở CHNDTH – dõi theo, đều bênh vực cùng một điểm, đó là các tuyên bố lịch sử của TQ trong khu vực, dựa trên cơ sở các tài liệu lịch sử [9]. Hai bài trong số này xuất hiện trên Minh báo nguyệt san 明報月刊 cùng số. Bài đầu của Dang Siyu (Đặng Tự Vũ 邓嗣禹), có tựa là “Nam TQ hải chư đảo tự đích chủ quyền vấn đề” 南中国海诸岛屿的主权问题 (Vấn đề chủ quyền ở các đảo và rạn đá ở Biển Đông) và mạnh mẽ đề xuất rằng tất cả các nhóm đảo trong Biển Đông là lãnh thổ của TQ [10]. Đặng Tự Vũ sử dụng một số ít sách vở và bản đồ trước thế kỉ 19 để củng cố luận điểm của mình trong khi bài báo thứ hai do Yip Honming (Diệp Hán Minh 葉漢明) và Ruiqing Wu (Ngô Thuỵ Khanh 吳瑞卿) viết thì đầy đủ hơn và sử dụng các sách vở TQ từ thế kỉ 1 trở đi [11]. Ngoài số lượng tài liệu tham khảo tăng lên rất nhiều, bài viết của Diệp và Ngô cũng có cả bản đồ. Tác giả của bài viết thứ ba – trong Thất thập niên đại 七十年代 – là Qi Xin (Tề Tân 齊辛), lại tập trung vào lịch sử thế kỉ 19 và 20 và lí do vì sao quần đảo Tây Sa là lãnh thổ TQ trong một thời gian dài. Giống như Đặng Tự Vũ, Tề Tân không cung cấp nhiều sách vở xưa hơn của TQ, nhưng bàn luận về các chính sách hiện đại [12]. Hai bài báo trên Minh báo nhằm chứng minh các nhà nước phong kiến và hiện đại TQ tiếp nối nhau đã kiểm soát các đảo ở Biển Đông như thế nào và do đó đã biến chúng thành lãnh thổ TQ (Nam hải chư đảo đích chủ quyền quy thuộc 南海诸岛的主权归属). Nhiều khả năng việc TQ chiếm được quần đảo Hoàng Sa và đẩy lùi lực lượng Nam Việt Nam mới trước đó [1974] đã thúc đẩy các tác giả viết ra các bài báo này. Với khả năng quân sự của TQ vào thời điểm đó còn kém phát triển so với Mĩ, việc dùng lập luận lịch sử có lẽ là tuyến phòng thủ đầu tiên để chống lại việc can thiệp ủng hộ Nam Việt Nam có thể có của Mĩ.

Tìm ra Biển Đông trong sách vở tiền hiện đại: “Sử lệ tổ” 史棣祖 năm 1975

Continue reading

Posted in Âm mưu Tàu Cộng, Biển Đông | Leave a comment

ĐBSCL 2020 Cánh đồng chết và 45 năm ảo vọng trí thức

Ngô Thế Vinh

GS Nguyễn Duy Xuân (trái) và GS Phạm Hoàng Hộ

Tưởng nhớ GS Nguyễn Duy Xuân, GS Phạm Hoàng Hộ,

Hai tượng đài trí tuệ kiệt xuất, bất khuất của Miền Nam

Lời Dẫn Nhập: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ sau khi hoàn tất bộ sách đồ sộ “Cây cỏ Việt Nam” mà Giáo sư gọi là “công trình của đời tôi” và vào mấy năm cuối đời, như một Di chúc, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho:

“Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước.

Tặng Giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên Viện trưởng Đại học Cần Thơ, mất ngày 10-11-1986 tại trại Cải tạo Hà-Nam-Ninh.

Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.

Thế hệ sinh sau 30 tháng 4, 1975 nay cũng đã 45 tuổi rồi, cũng là 45 năm của một chính sách ngu dân lãng phí/huỷ diệt nguồn chất xám, và lăng nhục cả một thế hệ trí thức Miền Nam. Và nghĩ xa hơn, một Đồng bằng Sông Cửu Long sẽ không chết như ngày nay nếu có một nhà nước biết trân trọng sử dụng nguồn chất xám ấy, mà biểu tượng là hai trí tuệ kiệt xuất của Miền Nam như Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, là hai thành viên sáng lập Viện Đại học Cần Thơ năm 1966, và sau 1975 cả hai có cùng một ý nguyện chọn ở lại để xây dựng đất nước sau chiến tranh và thống nhất.

Để rồi, GS Nguyễn Duy Xuân thì chết thảm sau 11 năm bị đày đọa trong trại tù cải tạo Hà-Nam-Ninh ở Miền Bắc, và GS Phạm Hoàng Hộ thì trải qua một chặng đường vô cùng đau khổ qua “một thời kỳ sống trong ảo vọng là sẽ thấy đất nước đi lên, giai đoạn đi xe đạp, ăn gạo hẩm, tưởng hoa sẽ nở trên đường quê hương”để rồi kết thúc là một cái chết buồn bã xa nửa vòng Trái đất bên ngoài quê hương, một quê hương mà ông suốt đời gắn bó và chẳng bao giờ muốn xa rời. Hình ảnh một Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, một Giáo sư Nguyễn Duy Xuân những năm sau 1975, là tấm gương và cũng là một trải nghiệm đau đớn cho cả một thế hệ trí thức Miền Nam. Trang sử ảm đạm ấy là một bài học đắng cay cho cả một dân tộc sẽ không thể và không bao giờ quên. Với các thế hệ trẻ sau 1975 ở khắp năm châu, cùng với bản tiếng Việt, nay có thêm bản tiếng Anh để các bạn dễ dàng tiếp cận hơn với bài học lịch sử ấy.

Những năm ảo vọng, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và bộ sách “Cây cỏ Việt Nam”

Peter Shaw Ashton, Giáo Sư Charles Bullard, Ngành Lâm Học, Đại Học Harvard

“Với những ghi chú bằng tiếng Anh, cùng với những nét minh hoạ tinh vi của hơn 10.500 chủng loại, bộ sách Họa hình Cây cỏ Việt Nam/Illustrated Flora of Vietnam của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã cung cấp cho giới độc giả tiếng Anh lần đầu tiên và cập nhật một tài liệu tham khảo thấu đáo mà chúng tôi ít biết đến. Công trình này sẽ đứng như một tượng đài của sự quyết tâm, cống hiến, và uyên bác với lòng can đảm của tác giả. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hầu như đơn độc hình thành một công trình sinh học thực vật có tầm vóc hàn lâm/ academic tại Đại học Sài Gòn giữa những năm tháng khó khăn. Trong hoàn cảnh cực kỳ thử thách ấy, Giáo sư Hộ đã sưu tập được những chất liệu cho bộ sách đặc sắc này và cả những chuyến du khảo nhằm thu thập những mẫu vật để minh hoạ. Và nay công trình được xuất bản, đó sẽ là nguồn khích lệ cho các nhà sinh học trẻ ở Việt Nam và cả ở hải ngoại.

“Cây cỏ Việt Nam có thể lên tới 12.000 chủng loại. Bởi vì xứ sở này nằm sát bờ Thái Bình Dương Á Châu nhiệt đới, đó là hành lang cho những chuyển dịch theo chu kỳ Bắc-Nam/periodic North-South migration của thảm thực vật vô cùng phong phú từ phía Nam Trung Hoa và phong phú hơn nữa là thảm thực vật xích đạo Mã Lai / equatorial flora of Malaysia. Trên các rặng núi vẫn còn lưu lại những chủng loại tùng bách / conifer và thực vật có hoa / angiosperm taxa có tầm quan trọng vô song, trong khi các vùng bình nguyên mang dấu ấn của quá khứ có liên hệ tới các vùng hải đảo Phi Luật Tân và Borneo Nam Dương. Đến nay sự phong phú này hầu như tiêu vong. Những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong chiến lược trồng cây tái sinh và bảo tồn sẽ được hỗ trợ bởi công trình của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ như một hồ sơ theo dõi các thảm thực vật đến nay còn tồn tại.” 

Tiểu sử:

GS Phạm Hoàng Hộ, trên giấy tờ ngày sinh là 3 tháng 8 năm 1931 tại An Bình, Cần Thơ. Nhưng theo cáo phó mới đây của gia đình thì GS Hộ sinh năm Kỷ Tỵ 1929, mất ngày 29 tháng Giêng năm 2017 tại Montréal, Canada hưởng thọ 89 tuổi. Anh Phạm Hoàng Dũng, con trai GS Phạm Hoàng Hộ xác nhận là “Ba tôi sinh năm Kỷ Tỵ 1929, nhưng theo lệ ngày xưa thì lâu sau đó mới khai sinh, là năm 1931”.

Văn bằng:

– 1953: Cử nhân khoa học, thủ khoa Thực Vật học, Paris

– 1955: Cao học Vạn Vật học, Paris

– 1956: Thạc sĩ / Agrégé Vạn vật học

– 1962: Tiến sĩ Khoa học / Vạn vật học, Paris

Chức vụ:

– 1957-1984: Trưởng phòng Thực vật Đại học Khoa học Sài Gòn

– 1965-1984: Giáo sư Thực vật học Đại học Khoa học Sài Gòn

– 1962-1966: Giám đốc Hải học viện Nha Trang

– 1963-1963: Khoa trưởng Đại học Sư phạm Sài Gòn

– 1963: Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục

– 1966-1970: Viện trưởng sáng lập Viện Đại học Cần Thơ

– 1978-1984: Chủ bút tuần báo Khoa học Phổ thông Sài Gòn

– 1984-1989: Giáo sư Khảo cứu tại Viện bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris

Hội viên Khoa học:

— 1956: Hội viên Hội Thực vật học Pháp

— 1963: Hội viện Hội Tảo học Quốc tế (International Phycological Society)

— 1964: Hội viên Sáng lập Hội Sinh học Việt Nam

— 1965: Phó Chủ tịch Uỷ ban Danh từ Việt Nam

— 1967: Hội viện Hội Viện trưởng Đại học Quốc tế (APU)

— 1969: Sáng lập viên Niên san Đại học Cần Thơ

— 1971: Hội viên Uỷ ban Thẩm định hậu quả chất Da cam tại Nam Việt Nam, Viên Hàn lâm Khoa học Quốc gia, Hoa kỳ.

— 1973: Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Quốc Tế Sông Mekong (MRC)

Ấn phẩm:

— 1960: Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam (Flore Illustrée du Sud Vietnam) – Bộ Giáo dục Việt Nam: 1 vol., 803 pp., 275 pls.

— 1964: Sinh học Thực vật – Bộ Giáo dục Việt Nam: 1 vol., 861 pp., nhiều hình

— 1968: Hiển hoa Bí tử – Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 506 pp., 264 pls.

— 1969: Rong Biển Việt Nam – Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 558 pp., 493 figs.

— 1970: Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam, in kỳ 2, quyển I – Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 1115 pp., figs. 2787

— 1972:  Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam, in kỳ 2, quyển II – Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục Việt Nam: 1139 pp., figs. 5272

Cây cỏ Việt Nam: An illustrated Flora of Vietnam

— 1991, Tập 1 Quyển I: Khuyết Thực Vật. Lõa Tử. Hoa-cánh-rời đến Tiliaceae

— 1992, Tập 1 Quyển II Hoa-cánh-rời từ Eleagnaceae đến Apiaceae

— 1993, Tập 1 Quyển III Từ Smilacaceae… Cyperaceae… Poaceae… đến Orchidaceae

— 1991, Tập 2 Quyển I Hoa-cánh-rời từ Sterculiaceae đến Fabaceae

— 1993, Tập 2 Quyển II Từ Daphniphyllaceae… Fagaceae…  Apocynaceae  đến Scrofulariaceae

— 1993, Tập 2 Quyển III Từ Smilacaceae… Cyperaceae… Poaceae … đến Orchidaceae

— 1998: Cây cỏ có vị thuốc ở Việt Nam – NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh: 860 pp., Mô tả 2149 loài có vị thuốc gặp ở Việt Nam

Vẫn trong bản Tóm lược sự nghiệp Khoa học, GS Phạm Hoàng Hộ tâm sự: “Có lẽ vì lúc còn rất nhỏ tôi đã sống ở nơi vườn tược, ruộng đồng xanh um vùng châu thổ sông Cửu Long, nên từ nhỏ tôi đã thích cây cỏ. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh của bông Súng ở ruộng hay ao, lộng lẫy dưới ánh mặt trời ban mai, hay hình ảnh của bông Nhãn lồng phơi mình dựa bờ ruộng. Nên Thực vật học và Sinh học Nhiệt đới đã hấp dẫn tôi lúc đi du học. Và lúc học ở Đại học Khoa học Paris, tôi đã bắt đầu tìm hiểu Cây cỏ Đông Dương. Tiếp xúc đầu tiên một cách khoa học với Cây cỏ ấy, tôi thực hiện ở Viện Bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris. Lúc mới học Vạn vật, tôi đã vào nhà kiếng của Viện này để tìm coi có loại nào ở nước nhà hay không. Và một số loài đã được vẽ từ lúc ấy! Tôi nhớ một số Lan đã được vẽ từ năm 1950, trong nhà kiếng ấy. Đó là những hình “xưa” nhất của bộ Cây cỏ của tôi. Sau này khi làm luận án Cao học, cũng ở Viện ấy, tôi mới có dịp vào Thảo Tập, và nhiều hình, nhất là của giống Ficus, khó, vì chưa nhiều loài đã được vẽ vì ngại sự khó khăn ấy về sau khi về bên nhà mà tài liệu thật là khó kiếm. Thật ra lúc ấy tham vọng của tôi vô cùng khiêm tốn, là sau này được biết các loại Ficus Việt Nam mà thôi! Cũng đã quá sung sướng rồi. Sau khi thi đậu Thạc sĩ / Agrégation hạng sáu, trên 300 thí sinh, và chỉ có 30 đậu, năm 1956 tôi về nước.

[* Ghi chú của người viết: cần phân biệt với bằng Thạc sĩ hiện nay ở Việt Nam tương đương với cao học/ master, trong khi Thạc sĩ / Agrégé ở Pháp là học vị về sư phạm, trải qua kỳ thi tuyển khó khăn, nếu thi đậu sẽ trở thành giáo sư thực thụ / professeur titulaire từ bậc trung học / lycée tới các trường cao đẳng / enseignement supérieur thuộc các ngành Khoa học, Y dược, Luật khoa]

Giáo sư Hộ viết tiếp: “Lúc ấy tham vọng của tôi chỉ là về dạy học ở một trường Trung học, và lúc rảnh rang sẽ tìm hiểu cây cỏ của vùng Lục tỉnh mà thôi, nhưng Viện Đại học Sài Gòn và Hải học viện Nha Trang “kéo” tôi về giảng dạy và trông nom Hải học viện. Khi làm việc ở Nha Trang tôi khảo cứu Rong biển, như là một phận sự. Và sau vài năm khảo cứu dưới sự hướng dẫn của Giáo sư J. Felmann, tôi hoàn thành luận án Tiến sĩ mà tôi trình ở Đại học Paris, năm 1961. Công trình này được đăng trong Niên san Khoa học Đại học đường Sài Gòn, và trong quyển Rong biển Việt Nam, cũng như một số ấn phẩm trong vài tạp chí khoa học.

Ở Sài Gòn, phận sự chính của tôi là giảng dạy Thực vật và Sinh học Thực vật (thay thế Giáo sư Pháp Roger, một nhà chuyên môn về nấm gây bệnh cây) cho sinh viên dự bị và chuyên khoa. Chính vì muốn giảng dạy tốt, thích nghi vào điều kiện nhiệt đới Việt Nam, các môn ấy mà tôi lục lạo và sau đó cho ra đời công trình mà sau này sẽ là công trình của đời tôi là Cây cỏ Việt Nam. [trích dẫn tư liệu gia đình GS. Phạm Hoàng Hộ: Văn Bằng, Sự Nghiệp Khoa Học của Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Thực vật học].

1959-1960, tôi / người viết bài này mới chỉ là sinh viên lớp dự bị Y khoa PCB / Physique Chimie Biologie tại Đại học Khoa học Sài Gòn và được học Thầy Hộ mới tốt nghiệp Thạc sĩ ở Pháp về, dạy môn Sinh Học Thực vật. Tuy chỉ được học Thầy một năm, nhưng Thầy đã để lại cho đám sinh viên và riêng tôi một niềm cảm hứng với những dấu ấn rất khó phai mờ. Vào trường Y khoa rồi, không còn được học Thầy Hộ nhưng tôi vẫn mang lòng ngưỡng mộ và cả theo dõi những bước đi và sưu tập những bộ sách công trình nghiên cứu khoa học của Thầy.

Vào đầu thập niên 1990, giới khoa học trong nước và hải ngoại rất đỗi vui mừng khi bộ sách Cây cỏ Việt Nam của GS. Phạm Hoàng Hộ được lần lượt xuất bản. Theo GS Thái Công Tụng, hiện định cư tại Montréal thì các sách của GS. Phạm Hoàng Hộ hiện có đầy đủ ở Bibliothèque Jardin botanique Montréal, Canada, và dĩ nhiên là có trong nhiều thư viện lớn trên thế giới.

Trọn bộ Cây cỏ Việt Nam gồm hai tập, mỗi tập 3 quyển, tổng cộng khoảng 3.600 trang, chưa kể Phần Từ Vựng tên Việt Nam và Từ Vựng tên Khoa học các Giống (Chi) bao gồm thêm cả công trình của những năm tháng Giáo sư rời quê hương Việt Nam sang Pháp, vẫn tiếp tục cặm cụi làm việc.

Riêng tôi / người viết đã sớm có được trọn bộ 6 Quyển Cây cỏ Việt Nam xuất bản ở hải ngoại do bác sĩ Phạm Văn Hoàng nguyên Giám đốc Trung Tâm Phục Hồi Cần Thơ, một đàn anh trong Y khoa gửi tặng, anh Phạm Văn Hoàng chính là bào đệ của GS Phạm Hoàng Hộ.

Tưởng cũng nên ghi lại ở đây, là trước 1975, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã từng là Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Sông Mekong/ Mekong River Committee và khoảng năm 1974 hai Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và Thái Công Tụng đã có một nghiên cứu chung về Môi sinh Đồng bằng Sông Cửu Long: The Mekong Delta, Its environment, Its Problems; [do Bộ Canh nông VNCH xuất bản, Sài Gòn 1974]; khi tìm kiếm tới tài liệu có tính cách lịch sử ấy, tôi được anh GS Thái Công Tụng bùi ngùi cho biết: là đã mất hết sau cơn binh lửa…

Để tìm hiểu thêm tại sao, các tác phẩm khoa học của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ lại được ưu tiên xuất bản bằng tiếng Việt cho dù ngôn ngữ chính thông thạo của GS. Hộ trong suốt quá trình đào tạo và giảng dạy là tiếng Pháp.

Trong lời mở đầu quyển Rong biển Việt Nam xuất bản năm 1969, GS. Phạm Hoàng Hộ viết: “Lúc đầu, quyển sách này được thảo bằng ngoại ngữ, khi làm việc ở Hải học viện Nha Trang và ở Museum, và tôi có hoài bão được xuất bản trong ngoại ngữ ấy để công bố công trình khảo cứu của mình ra bốn phương, như lời hứa ngầm lúc trình luận án.

Song nay tôi đã đổi ý và cho xuất bản bằng tiếng Việt Nam. Đó là để chứng minh rằng ngôn ngữ nào, miễn được chăm sóc, đều có thể diễn tả kiến thức ở mọi trình độ. Tôi biết rằng có nhiều người cho rằng không ấn hành trong một ngôn ngữ quốc tế là phí công, giới khảo cứu làm sao biết đến. Nhưng tôi thấy chẳng cần đến việc ấy. Được mấy mươi triệu người Việt Nam biết và dùng, có giá trị hơn là được vài ngàn học giả chuyên môn thưởng thức. Tôi đã bỏ cái tự hào sai là tranh đua cùng người ngoài để tự tạo lấy thanh danh, “làm thơm lây dân Việt”. Tôi tin rằng cái tự hào ấy không thực tế, vì một người Việt Nam hay, không bằng nhiều người Việt Nam khá: cầm đuốc soi thành phố người có vẻ không thức thời trong khi nước nhà còn u ám. Cái tự hào trên thật ra chỉ để che đậy sự trốn trách nhiệm, sự bỏ phận sự trước con cháu chúng ta một cách không tha thứ được. 

Tạo ra cho chúng ta một nền văn chương khoa học là một công trình rất bao la. Vì thấy nó quá to tát nên nhiều học giả chấp nhận giải pháp dễ nhất: học ngay trong văn chương khoa học ngoại ngữ vô cùng phong phú, dồi dào. Cái học như vậy sẽ cho ta những người giỏi, nhưng ta không quên rằng nền văn minh bây giờ là văn minh của đại chúng chứ không phải của vài người được nữa. Ta đừng để cho sự phong phú của văn hoá nước ngoài đè bẹp ta. Người Nhật, cách đây một thế kỷ, há đã không hoảng sợ trước sự hùng mạnh của khoa học nước ngoài sao? Mà nay họ đã tự tạo được một một nền văn chương khoa học riêng biệt đã đến lúc gần hay hơn cả những nước ấy!

Hơn lúc nào hết, câu của Nguyễn Văn Vĩnh vẫn còn vẳng bên tai: “Nước Việt Nam ta sau này hay hay dở là ở chữ quốc ngữ”. Trong thế giới tương lai, sự lệ thuộc về văn hoá, nhất là về văn hoá khoa học sẽ là sự lệ thuộc chánh”. [Lời mở đầu của quyển Rong biển Việt Nam; Trung tâm Học liệu, Bộ, Giáo dục xuất bản 1969].

 

Chặng đường đau khổ

Hình ảnh một Giáo sư Phạm Hoàng Hộ những năm sau 1975, là một tấm gương và cũng là một trải nghiệm đau đớn cho cả một thế hệ trí thức Miền Nam mà Giáo sư Phạm Hoàng Hộ là một biểu tượng. Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ thì bộ sách Cây cỏ Việt Nam đã được thực hiện qua bốn giai đoạn:

Nghiên cứu giai đoạn một: hợp tác với GS Nguyễn Văn Dương về phần dược tính, Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1960 mô tả 1.650 loài thông thường của Miền Nam, “Đó là giai đoạn còn mò mẫm, học hỏi một thực-vật-chúng chưa quen thuộc đối với một sinh viên vừa tốt nghiệp từ vùng xa lạ mới về.

- Nghiên cứu giai đoạn hai: kỳ tái bản lần hai 1970 bộ Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, số loài lên được 5.328 [Hình 2]. “Đó là giai đoạn mà tôi xem như vàng son của một nhà thực vật học Việt Nam chúng ta. So với bây giờ, lúc ấy tôi yên ổn làm việc, có nhiều phương tiện cá nhân cũng như của non nước và nhất là được sự khuyến khích của mọi giới, bạn bè cũng như chính quyền.

Nghiên cứu giai đoạn ba: tiếp tục công việc nghiên cứu sau 1975, đưa thêm được vào bộ sách Cây cỏ Miền Nam Việt Nam 2.500 loài và bộ được nới rộng cho toàn cõi Việt Nam.

Sau biến cố 1975, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cũng như người bạn đồng hành trí tuệ của ông là Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã cùng chọn ở lại để xây dựng đất nước sau chiến tranh và thống nhất, nhưng với cái giá rất đắt mà sau này được GS Hộ ghi lại là: “Thời kỳ sống trong ảo vọng là sẽ thấy đất nước đi lên. Giai đoạn đi xe đạp, ăn gạo hẩm, tưởng hoa sẽ nở trên đường Quê hương.”

Tuy Giáo sư Phạm Hoàng Hộ vẫn còn chức danh là Hiệu phó [Phó Khoa trưởng] Đại học Khoa học, nhưng chính quyền mới chỉ sử dụng trí thức cũ như ông chủ yếu là “làm kiểng”, không có vai trò tương xứng trong giáo dục. Vì không là đảng viên, nên khi có vấn đề gì thì Đảng bộ họp riêng và quyết định, có việc ông không bao giờ được biết. Năm 1977 sau trải nghiệm những ngày học chính trị, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức Miền Nam tổ chức tại TP.HCM; từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”. [Huy Đức, Bên Thắng Cuộc]

Rồi phải chứng kiến một thiểu số trí thức cũ xu thời, mau chóng hợp tác toàn diện với chế độ mới, bất chấp sự liêm khiết, sẵn sàng cống hiến những công trình mệnh danh khoa học theo phong trào để mừng các ngày lễ hội 3-2 hay 19-5 như các bài báo chứng minh “ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò” hoặc là “ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo”… những công trình “giả khoa học / pseudo-science ” ấy đã mau chóng trở thành giai thoại đầy mỉa mai được lan truyền trong các trại tù Cải tạo, nơi mà đám tù nhân Miền Nam đang bị thiếu ăn suy dinh dưỡng với thực phẩm cung cấp chủ yếu là gạo hẩm “đại mễ” của Trung Cộng cùng với bo bo và khoai mì / ngoài Bắc gọi là sắn.

Continue reading

Posted in Ảo vọng trí thức, Mặt thật cộng sản, Trí thức miền Nam | Leave a comment

“Chìa khoá” vạn năng và “ổ khoá” vứt đi

Phương Hiền

http://www.viet-studies.net/kinhte/ChiaKhoaVanNang.jpg

Sáng nay, phong toả toàn quốc, mấy gái vẫn kháo nhau đi dự “Sale” 200 bộ áo dài của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Thím có hơn 300 bộ, nay hưởng ứng kêu gọi của Thủ tướng, thím “sale” quá nửa, tăng ngân sách chống Covid-19. Một công đôi việc, vừa ghi điểm trước Đại hội, vừa bớt đi những thứ không còn “mốt”. Chạy một mạch xuống tầng trệt… Hội trường vắng tanh, mới biết bị lỡm. Cá tháng Tư mà!

Nhưng cách ly xã hội trong cả nước lại là thật. Tiu nghỉu, nằm lướt mạng, bắt gặp thím Ngân nhận chìa khoá từ Mr. Tập trong một bức ảnh. Cười to thành tiếng, cô bạn cùng phòng ngủ rốn, càu nhàu. Sau khi giải thích, nó cười còn to hơn. Và rủa, đàn ông bất hảo chẳng kém gì Tàu! “Tán” được nhiều em thì tự hào mình là chìa khoá vạn năng (master key), các em “nhẹ dạ” với anh này anh kia, thì lại cho là đồ ổ khoá bỏ đi.

Mùa Covid-19, nhìn chìa khoá Tàu, ổ khoá Việt, nghĩ về sức mạnh “vạn năng” của Trung Quốc và vị thế “vứt đi” của Việt Nam, càng ngán ngẩm. Có muốn cười cũng không thành tiếng được, đành “cười ra nước mắt”! Phong toả, cách ly nhưng sao lại đóng cửa khẩu với Lào và Campuchia mà vẫn mở cho Tàu, quê hương “Virus Vũ Hán”. Thế chẳng khác nào “bịt lỗ hà ra lỗ hổng”.

Cũng là tuyên truyền cả, cũng thay mặt Ban Bí thư mỗi đảng, mà ông Tập xuất hiện trước ống kính như anh hùng hảo hớn, cưu mang thần dân của mình chống lại “Virus Hoa Kỳ”, “Virus Nhật Bản”, mới đây chống cả “Virus Italy” nữa (?) Còn Tổng Chủ Nguyễn Phú Trọng sau hai tháng “mất tích”, trở lại chính trường thì chủ trương “tuần lễ vàng” thứ hai kể từ thời cướp chính quyền, móc túi dân để chống lại Covid-19.

Thật là một trời một vực! Một bên “vạn năng”, được cho là giang tay cứu vớt hàng triệu người lây nhiễm. Còn bên kia đồ “vứt đi”, bởi lòng tin vào chính quyền sắp cạn kiệt, lại vào thời “thóc cao gạo kém”, người dân lấy đâu ra tiền để làm từ thiện, ngoại trừ mấy gã “trúng mánh” nhờ cơ chế? Nhưng các đại gia kỳ này bị giới showbiz bỏ xa!

Continue reading

Posted in Âm mưu Tàu Cộng, Covid 19 | Leave a comment

EVFTA vướng dịch

Võ Hàn Lam

Ngày 30/3, Hội đồng châu Âu đã thông qua quyết định phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam (EVFTA). Tuy nhiên chưa biết kỳ họp Quốc hội tới đây của Việt Nam có thể diễn ra hay không vì chuyện dịch corona – đặc biệt là bối cảnh Việt Nam ‘cách ly toàn xã hội’ trong 2 tuần lễ đầu tháng tư.

Phải chờ hết dịch và xong bầu bán nhiệm kỳ mới của Đảng?

Sau khi Quốc hội Việt Nam thông qua hiệp định, Chính phủ mới đưa ra nghị định hướng dẫn, sau đó các bộ mới ban hành thông tư hướng dẫn. Quá trình này có khi mất nhiều năm và đòi hỏi phải có sự đồng bộ về văn bản pháp luật giữa các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Đây là một thách thức cực lớn. Có lẽ lúc đó, đại dịch Covid-19 đã qua, doanh nghiệp Việt phải loay hoay “dọn dẹp” đống hoang tàn do dịch Covid-19 để lại.

Và vấn đề cam kết của Việt Nam đối với cơ chế đảm bảo thực thi quyền lao động, quyền con người… cũng như làm thế nào để EU có thể tối đa hóa ảnh hưởng của mình đối với vấn đề nhân quyền ở Việt Nam khi mà EVFTA thực thi, là điều chưa ai có thể hình dung được.

Tất cả còn chờ kết quả ‘chống dịch’ đang vào hồi quyết liệt nhất với lệnh ‘cách ly toàn xã hội’ từ ngày 1 đến 15-4. Bản lĩnh với những quyết đoán từ các vị trí người đứng đầu như những vị chủ tịch tỉnh, thành phố và người đứng đầu chính phủ sẽ thể hiện ở thời điểm dầu sôi lửa bỏng của sinh tồn này.

Ngoại trừ TP.HCM, còn lại với nhiều địa phương – kể cả với thủ đô Hà Nội, diễn biến suốt mấy tháng qua về chống dịch corona, công chúng ít thấy sự đăng đàn của các vị Bí thư Thành ủy, Tỉnh ủy và cả Bổng Bí thư trong những phát biểu về quyết sách, qua đó cho thấy được tầm nhìn cần có trong vai trò chính khách ở một quốc gia độc đảng chính trị.

Trứng sẽ không còn chung một giỏ nữa…

Diễn biến về đại dịch đến từ con virus Vũ Hán lây lan nhanh chóng trên toàn cầu đã bộc lộ rõ các ‘điểm chết’ trong toàn bộ hệ thống logistics, khi mà rất nhiều nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, phần lớn được đặt công xưởng tại Trung Quốc. Một kiểu của bỏ các loại trứng trong cùng một giỏ.

Continue reading

Posted in Covid 19, EVFTA, EVFTA và thể chế | Leave a comment

Coronavirus: Một huyền thoại về siêu quyền lực?

Đào Như (BS Đào Trọng Thể)

Tác giả gửi tới Dân Luận

Theo số liệu được cung cấp từ WHO, CDC, CCDC… Coronavirus Realtimes Update và dựa trên biểu đồ của trang mạng newsbreak.com thì số người Mỹ bị nhiễm Covid-19 chỉ thật sự tăng mạnh kể từ ngày 20-3. Đến nay 28-3 chỉ có 9 ngày mà số liệu người Mỹ bị nhiễm Covid-19 đã tăng lên đến mức kỷ lục, 122,458 ca, vượt cả Ý (92,472) và Trung Quốc (81,439).

Chúng ta thử lấy California làm mẫu: Hiện tại tính đến ngày 28-3 đã có 88,400 người được xét nghiệm thì đã có 5659 ca nhiễm Covid-19. Như vây tỷ trọng ca nhiễm tại Cali là 1 trên 15. Như thế có nghĩa là cứ 15 người Mỹ đã có 1 người bị nhiễm Corona virus tính đến thời điểm 28-3-2020. Như vậy nếu Bộ Y tế Mỹ có đủ khả năng xét nghiệm đại trà với 320 triệu người dân, nước Mỹ của chúng ta có ít nhất là 26 triệu ca nhiễm Virus Corona. Con số 26 triệu có thể gây choáng, chẳng những cho người Mỹ mà cho cả thế giới, khi mà khả năng ngăn chặn và điều trị nhiễm Covid-19 còn rất giới hạn. Andrew Cuomo, Thống đốc của bang New York, môt bang giàu có, tiến bộ, và đông dân nhất thế giới, hồi đầu tuần trước ông ta đã phải tuyên bố chỉ còn một tuần nữa New York không đủ khả năng tiếp thu hàng ngàn ca nhiễm. Tất cả vật liệu phòng chống Corona virus đều bị cạn kiệt. Phương hướng ngăn chặn với hiệu năng cao duy nhất trong tình hình hiện tại là cách ly New York với thế giới bên ngoài, cũng như với các bang còn lại của nước Mỹ. Tất cả các tổ chức, hội họp, quán ăn, thể thao, văn hóa… tất phải đóng cửa. Người dân New York phải biết tự cách ly, đóng cửa ở trong nhà, và phải giữ “khoảng cách xã hội” giữa các thành viên trong gia đình và xã hội. Trong thực tiễn trước hết là Trung Quốc và sau đó các quốc gia châu Âu như Ý, Spain, England, Pháp… đã áp dụng phuong pháp cách ly và cô lập này từ đầu năm 2020.

Continue reading

Posted in Coronavirus, Virus Trung Quốc, Virus Vũ Hán | Leave a comment

Đại dịch Corona và nội tình Trung Cộng

1. Tập Cận Bình bị kêu gọi từ chức vì xử lý tệ hại khủng hoảng corona

Thụy My

Quyền uy Tập Cận Bình bao trùm Trung Quốc, nhưng nay người dân phẫn nộ vì đại dịch ở Vũ Hán đã dám lên tiếng phản đối. Ảnh mang tính minh họa.

Đài truyền hình Sun TV tại Hồng Kông cho biết các «thái tử đỏ» đề nghị lập ra một «nhóm lãnh đạo khẩn cấp» do Phó chủ tịch nước Vương Kỳ Sơn (Wang Qishan 王岐山)hoặc Uông Dương (Wang Yang 汪洋), Ủy viên thường trực Bộ Chính trị đứng đầu. Sự kiện một thông tin như vậy xuất hiện cho thấy đang có đấu đá dữ dội trong nội bộ Trung Quốc.

Theo tác giả Jayadeva Ranade, Giám đốc Trung tâm Phân tích Chiến lược Trung Quốc trên tờ The Tribune*, ông Tập Cận Bình đang bị những người chỉ trích đòi hỏi từ chức, do đã xử lý một cách tệ hại đại dịch virus corona xuất phát từ Vũ Hán.

Những biểu hiện bất mãn, vốn hiếm thấy ở Trung Quốc vì nguy cơ bị trừng phạt, đang ngày càng tăng lên, gây áp lực lớn đối với chủ tịch Tập Cận Bình và đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Sự phẫn nộ lan rộng trong công dân Trung Quốc trước tình trạng thiếu minh bạch, giấu diếm thông tin khi nạn dịch virus corona nổ ra, đã thổi bùng sự bất mãn ngấm ngầm lâu nay khi Tập Cận Bình xóa bỏ giới hạn không được tại vị quá hai nhiệm kỳ, trong Đại hội Đảng thứ 19 vào tháng 10/2017.

Cái chết của bác sĩ Lý Văn Lượng (Li Wenliang 李文亮), bệnh viện Vũ Hán, càng làm người dân thêm giận dữ. Một số nhân vật nổi tiếng, kể cả các quan chức đảng hoặc đảng viên bình thường, và có ít nhất là một cựu thành viên trong số 350 ủy viên trung ương đầy quyền lực, đã thẳng thừng đả kích Tập Cận Bình và chính sách của hoàng đế đỏ.

Các chỉ trích nhắm vào việc đảng ngày càng tăng cường kiểm soát và tập trung quyền lực. Việc siết chặt giám sát thể hiện qua ngân sách an ninh hàng năm đều tăng lên kể từ năm 2013, trùng hợp với thời điểm Tập Cận Bình lên làm tổng bí thư kiêm chủ tịch Quân ủy Trung ương và chủ tịch nước. Bên cạnh đó việc theo dõi người dân trở nên phổ biến thông qua hệ thống camera giám sát, công nghệ nhận diện và trí tuệ nhân tạo.

Sự vắng mặt khó hiểu của Tập Cận Bình từ ngày 29/1 đến 10/2/2020, lúc dịch bệnh hoành hành, trong khi lâu nay ông luôn xuất hiện trên trang nhất các báo và đài truyền hình Nhà nước, cũng gây ra luồng ý kiến bất lợi cho ông Tập.

Vào ngày 02/03/ và trước đó vào ngày 23/2, ông Triệu Sĩ Lâm (Zhao Shilin 赵士林), Giáo sư về hưu của trường đại học Dân tộc Trung ương (Minzu), Ủy viên trung ương đảng, đã gởi hai lá thư cho ông Tập Cận Bình, cả hai đều mang giọng điệu đả kích kịch liệt.

Trong thư đề ngày 23/2, Triệu Sĩ Lâm khẳng định Trung Quốc đã bỏ lỡ «thời gian vàng» vào dịp Tết, khiến cho «nạn dịch lan tràn vô cùng dữ dội». Ông nhận định cái giá phải trả là «khủng khiếp»  «đau thương không kể xiết». Nhắc lại lời của Tập Cận Bình, cuộc chiến chống virus corona là «thử nghiệm lớn lao về khả năng của hệ thống điều hành đất nước», vị Giáo sư thẳng thừng tuyên bố : «Rất tiếc là tôi phải nói rằng tỉ số của đồng chí đến nay bằng 0!».

Giáo sư Triệu chỉ ra năm yếu tố, trong đó có việc siết chặt an ninh, bảo đảm hình ảnh ưu việt của đảng, tập trung mọi quyền hành vào tay một người. Tình trạng này ngăn trở các cán bộ đảng và viên chức thực hiện phần việc của mình, phát huy sáng kiến. Tuyên bố « những người trong và ngoài hệ thống đều kêu gọi cải cách chính trị », ông Triệu Sĩ Lâm nhấn mạnh cần bao gồm việc áp dụng « những giá trị xã hội cốt lõi: tự do, dân chủ, bình đẳng, pháp quyền », bảo đảm các quyền chính trị của công dân như tự do ngôn luận.

Trong lá thư thứ hai ngày 2/3, ông tái khẳng định : « Trong một xã hội lành mạnh, cần phải có nhiều hơn là một tiếng nói để đòi hỏi tự do ngôn luận ».(1)

Nhiều người khác cũng đã đăng những bài viết chỉ trích, khiến một số có nguy cơ bị đàn áp.

Ông Hứa Chí Vĩnh (Xu Zhiyong 許志永), cựu Giáo sư Trường đại học Bưu điện và Viễn thông Bắc Kinh, kêu gọi ông Tập Cận Bình từ chức vì «không có khả năng xử lý những cuộc khủng hoảng lớn». Giáo sư gọi tư tưởng chính trị của Tập Cận Bình là «rối rắm», mô hình cai trị «lỗi thời», tuyên bố ông Tập đã làm Trung Quốc suy sụp với «những biện pháp quá lố nhằm duy trì ổn định xã hội» của ông ta. Hứa Chí Vĩnh kết luận: «Tôi không nghĩ rằng ông là một người độc ác, ông chỉ không mấy thông minh thôi. Vì lợi ích cộng đồng, một lần nữa tôi yêu cầu ông: hãy từ chức đi, ông Tập Cận Bình!».(2)

Tiểu luận của Giáo sư Hứa Chương Nhuận (Xu Zhangrun 許章潤), Trường đại học Thanh Hoa (Tsinghua) mang tên «Những người phẫn nộ không còn sợ hãi nữa» được lan truyền rộng rãi trên các mạng xã hội Trung Quốc. Nhà nghiên cứu cáo buộc các nhà lãnh đạo, và đặc biệt là Tập Cận Bình, đã xa rời nhu cầu của người dân, muốn duy trì vĩnh viễn sự cai trị của «một nhóm nhỏ lãnh đạo» và lao vào «chủ nghĩa khủng bố dữ liệu». Giáo sư tố cáo việc «bóp nghẹt các tranh luận công khai và truyền thông xã hội, cơ chế cảnh báo sớm đã tồn tại ban đầu», đổ lỗi cho chính quyền Hồ Bắc. Bài viết đánh giá Tập Cận Bình là «bạo chúa chính trị», và khẳng định «cuối cùng vầng thái dương cũng sẽ đến trên mảnh đất tự do này».

Cơn phẫn nộ của cư dân Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc và là tâm dịch đương nhiên nổ ra khi dịch bệnh hoành hành. Khi Phó thủ tướng Tôn Xuân Lan (Sun Chunlan 孫春蘭) đến Vũ Hán hôm 14/2, họ đã phản đối việc «chính quyền cộng sản hủy bỏ tự do ngôn luận và giấu diếm thông tin». Cư dân hô lớn «Đừng tin họ», «Họ toàn nói láo »

Continue reading

Posted in Mặt thật Tàu cộng, Virus Vũ Hán | Leave a comment

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19

Ngày 31/3/2020, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19.

Dưới đây là văn bản Chỉ thị:

D:\Downloads\BVN\1-4\31.3.2020 16 CT-TTg-page-001.jpgD:\Downloads\BVN\1-4\31.3.2020 16 CT-TTg-page-002.jpgD:\Downloads\BVN\1-4\31.3.2020 16 CT-TTg-page-003.jpg

Posted in COVID 19 ở VN | Leave a comment