Nghi vấn lịch sử về quan hệ giữa Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh và “Lưỡng quốc Tướng quân” Nguyễn Sơn: thầy trò hay đối thủ chính trị?

Cao Tuấn

Bài 2: THẦY – TRÒ HAY ĐỐI THỦ?

Với những tài liệu được giải mật cho thấy Nguyễn Sơn đã được ông Hồ Chí Minh rất trọng dụng trong những năm đầu.

Lẽ tất nhiên là phải như thế.

Đảng Cộng sản Việt trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, “ngàn cân treo sợi tóc” rất cần tài năng và kinh nghiệm của Nguyễn Sơn. Nguyễn Sơn đúng là người của tình thế. Nguyễn Sơn lại là tướng tin cẩn của Mao, đặc phái viên của Mao ở Việt Nam đúng lúc Mao, chỉ sau Stalin, là đại lãnh tụ mà người Cộng sản Việt kính nể, sùng bái và tin tưởng nhất. Ngoài ra, kể từ khi Stalin giải tán tổ chức Đệ Tam Quốc Tế năm 1943 để tỏ thiện chí với Anh, Mỹ, hy vọng hai nước đồng minh tư bản này đáp ứng yêu cầu sớm mở thêm mặt trận ở Tây Âu đỡ đòn cho Liên Xô lúc ấy đang kẹt trong cuộc chiến sinh tử với Hitler thì Stalin đã giao hẳn cho Đảng Cộng sản Tầu trách nhiệm trông coi giúp đỡ Đảng Cộng sản Việt – theo đúng ý của Mao.

Nói một cách khác đi, trong phong trào Cộng sản Quốc Tế tại Á Châu, Hồ Chí Minh là thuộc cấp của Mao, nhận chi viện từ Mao, chấp nhận sự lãnh đạo của Mao. Stalin đã hoàn toàn phủi tay. Hồ Chí Minh, muốn hay không muốn, không có lựa chọn nào khác.

▪TỪ HIỆN TƯỢNG…

Tuy thế, qua thời gian, sự mâu thuẫn dẫn tới bất hoà giữa ông Hồ và Nguyễn Sơn đã không tránh được và bộc lộ dần trong khi tình hình kháng chiến chống Pháp tiến triển khả quan. Và có thể chính vì tình hình kháng chiến khả quan mà lại dẫn tới mâu thuẫn bất hoà. Nghịch lý nhưng thật ra dễ hiểu.

1. Tháng 1/1948 để tăng uy thế cho Chính phủ Kháng chiến chống Pháp mà ông lãnh đạo, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm cho 11 cấp chỉ huy cao cấp nhất của quân đội Việt Minh. Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng. Nguyễn Bình được phong Trung tướng. 9 người được phong Thiếu tướng là: Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm, Chu Văn Tấn, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai, Lê Thiết Hùng, Trần Đại Nghĩa và Nguyễn Sơn. Quả thực việc phong quân hàm đã làm tăng uy thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, của Trung tướng Nguyễn Bình, của tất cả các tướng được phong ngoại trừ Nguyễn Sơn.

Thực tế là giảm uy thế của Nguyễn Sơn.

Đối với một người sâu sắc, mưu lược như ông Hồ, sắp xếp phong tướng như vậy khó có thể là một việc làm không có chủ ý.

Ông Trần Độ kể về phản ứng bất bình của Nguyễn Sơn (nguyên văn):“Mọi người đến mừng thì ông đã vặc lại: “chúc mừng cái đ. gì! Tao “thừa tướng” chứ “thiếu” sao!?”. Rồi Tư lệnh kiêm Chính uỷ Khu 4 Nguyễn Sơn gửi “công văn hoả tốc” cho Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh ở Việt Bắc thông báo từ chối không nhận quân hàm Thiếu tướng. Thay vì cách chức và ra lệnh xử bắn Nguyễn Sơn vì tội “khi quân”, “phạm thượng”, “bất tuân thượng lệnh”, ông Hồ cân nhắc lợi hại, ông biết Nguyễn Sơn đến từ đâu, Nguyễn Sơn là người của ai, thế lực của Nguyễn Sơn ở Chiến khu 4 mạnh yếu thế nào, ông chấp nhận tạm thời một bước lùi. Ông viết bài thơ 12 chữ Hán trên một tấm danh thiếp, đúng ra là thu ngắn một bài cổ thi đời Tuỳ – Đường, tặng Nguyễn Sơn, nghe như lời khuyên bảo ngọt ngào của người anh thân thiết:

Tặng Sơn đệ

Đảm dục đại 

Tâm dục tế

Trí dục viên

Hành dục phương

(Bản dịch là:

Tặng chú Sơn

Dũng cảm phải lớn

Tấm lòng phải tế nhị

Suy nghĩ phải trọn vẹn

Hành động phải chín chắn

(Sách Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương – trang 310)

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, nguyên Bộ trưởng Y tế, Thứ trưởng Phủ Chủ tịch, đặc phái viên Chính phủ và đại diện cá nhân ông Hồ Chí Minh đã phải lặn lội từ Việt Bắc vào đến Thanh Hoá trao tấm danh thiếp lịch sử nói trên cho Nguyễn Sơn và chuyển lời phủ dụ của ông Hồ. Không ai biết rõ nội dung lời phủ dụ có gồm hứa hẹn nào không nhưng sau đó, ngày 9/10/1948, lễ thụ phong quân hàm Thiếu tướng của Nguyễn Sơn được tổ chức trọng thể tại Chiến khu 4 có mặt Phạm Ngọc Thạch và một số nhân vật quan trọng từ Trung ương đến dự như Lê Đức Thọ, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Khánh Toàn… Cuộc “khủng hoảng quân hàm” kéo dài hơn nửa năm trời tạm kết thúc nhưng “bát nước đã đổ xuống đất…” và có thể đã đổ xuống đất từ trước đó rồi!

Khoảng hơn một năm sau, Nguyễn Sơn mất chức Tư lệnh kiêm Chính uỷ Chiến khu 4 và được giữ lại ở Việt Bắc để chỉ làm công tác quân huấn, tức là làm tướng… không quân.

2. Cuối năm 1949 nội chiến Quốc-Cộng ở Tầu kết thúc. Đảng Cộng sản Tầu toàn thắng, chiếm toàn cõi Hoa Lục. Ở thời điểm này, Mao Trạch Đông nghiễm nhiên là Chủ tịch quyền uy tột bực của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa 600 triệu dân, 5 triệu quân, một Tần Thuỷ Hoàng mới ngự ở đế đô Bắc Kinh. Hồ Chí Minh vẫn còn là một lãnh tụ của vài chục ngàn du kích, chưa thực sự an toàn trong hang Pác Bó dù chỉ cách biên giới Việt-Trung có 3 cây số.

Tháng 1/1950 Hồ Chí Minh bí mật sang Tầu xin Mao Trạch Đông tích cực giúp đánh Pháp. Mao chấp thuận ngay một sự viện trợ ào ạt và gửi 2 đoàn cố vấn chính trị và quân sự đến Việt Nam bắt tay vào việc.

Trong một buổi làm việc với La Quý Ba, Trưởng đoàn cố vấn chính trị, ông Hồ bầy tỏ ý kiến muốn xin gửi Nguyễn Sơn trở lại Trung Quốc với lý do để… tăng cường liên lạc giữa 2 đảng, 2 nước, 2 quân đội. La Quý Ba làm báo cáo về Trung ương Đảng Cộng sản Tầu và yêu cầu của ông Hồ được chấp nhận. Tháng 9/1950 Nguyễn Sơn/Hồng Thuỷ trở lại Trung Quốc và được La Quý Ba tự thân đi tiễn tới tận biên giới.

Cũng trong bài viết “Tướng Nguyễn Sơn và tôi”, ông Trần Độ (quân hàm Đại tá từ 1948) kể (nguyên văn): “Cũng dịp này tôi được phái sang Trung Quốc chuẩn bị đưa quân sang huấn luyện. Ông Sơn được tổ chức ghép vào cùng đi với chúng tôi. Đến biên giới thì có xe GMC đón chúng tôi đi Nam Ninh. Cả đoàn phấn khởi vui sướng lắm. Yên vị trên xe, ông Nguyễn Sơn bảo:

- Thế là tao cùng đi với chúng mày”

Tôi đáp:

- Được đi cùng anh vui lắm.

Dọc đường tôi có hỏi:

- Tại sao anh đòi trở lại Trung Quốc như vậy?

- Trung Quốc mới là Tổ quốc của tao.

- Thế về Trung Quốc anh định làm gì?

- Tao có ý định lập một đoàn kinh kịch (!), tao sẽ làm trưởng đoàn dẫn quân đi diễn khắp các nước trên thế giới.

Tôi hỏi:

- Thế liệu anh có về Việt Nam diễn không?

- Đi các nước thì đi, chứ không thèm về Việt Nam.”

Ông Trần Độ là người đứng đắn và không có lý do để nói lời bịa đặt.

3. Hồng Thuỷ/Nguyễn Sơn đến thủ đô Bắc Kinh của Trung Cộng trùng phùng với các chiến hữu cũ trong Đảng Cộng sản Tầu và được trọng dụng ngay mặc dù lúc này nội chiến Quốc-Cộng đã chấm dứt nên công tác thời hậu chiến trong quân đội cũng khác thời chiến tranh. Các chức vụ và trách nhiệm đều thuộc loại khá cao cấp ở nước Tầu, tương xứng với khả năng và kinh nghiệm: làm việc ở Bộ Liên lạc Trung ương (Ban Liên lạc Đối ngoại), thụ huấn và công tác tại Học viện Quân sự, Phó Cục trưởng Cục Điều lệnh thuộc Quân uỷ Trung ương, Chủ nhiệm kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu của Tổng cục Huấn luyện thuộc Bộ Tổng Tham mưu…

Tháng 5/1954 ở Việt Nam, quân viễn chinh Pháp, được Mỹ tận tình giúp, thảm bại trong tay quân đội Việt Minh được Trung Cộng tích cực yểm trợ, tại trận quyết chiến Điện Biên Phủ chấn động thế giới.

Tháng 7/1954 Hiệp định Genève chia Việt Nam thành 2 nước: Việt Nam Cộng hoà với lãnh tụ Ngô Đình Diệm và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với lãnh tụ Hồ Chí Minh. Theo ngôn ngữ của người Cộng sản Việt thì “Miền Bắc nước ta đã được hoàn toàn giải phóng”.

Tháng 9/1955 ở bên Tầu, Hồng Thuỷ/Nguyễn Sơn được Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai trao quân hàm Thiếu tướng cấp sư đoàn và 3 Huân chương Hạng Nhất trong một buổi lễ rất long trọng trao quân hàm cho 10 Nguyên soái và mấy trăm Tướng lĩnh của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Danh hiệu “Lưỡng Quốc Tướng Quân” của Hồng Thuỷ/Nguyễn Sơn bắt đầu từ đây.

Sách Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương, trang 362-363 cho biết thêm rằng chính quyền Trung Cộng lúc đầu đã định phong Hồng Thuỷ/Nguyễn Sơn là Trung tướng trong quân đội Cộng sản Tầu nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển đạt yêu cầu Trung Quốc chỉ nên phong Thiếu tướng cho Hồng Thuỷ/Nguyễn Sơn với lý do khá lạ lùng là “quân hàm nên tương đồng với quân hàm của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã trao và cấp bậc nên giữ như biên chế tương đương mà xét thì tốt hơn”.

Nguyễn Sơn được phong Thiếu tướng từ năm 1948, gần 8 năm sau ông Hồ vẫn muốn “Sơn đệ” tiếp tục là Thiếu tướng! Ông không an tâm thấy một người Việt Nam quá rạng rỡ và được sủng ái trong Đảng Cộng sản Tầu chăng?

Mao Trạch Đông can thiệp “nửa vời” vào phút chót với cấp hữu quan: “Như vậy là không thích hợp. Đồng chí Hồng Thuỷ tham gia quân đội từ thời Hoàng Phố, có thể sửa lại cấp quân đoàn được không?!”. Mao Chủ Tịch hẳn đã đọc đầy đủ các giãi bầy, báo cáo chi tiết của Hồ Chí Minh, của Hồng Thuỷ/Nguyễn Sơn và của La Quý Ba. Và lời nói của Mao là một mệnh lệnh.

Kết quả Hồng Thuỷ vẫn là Thiếu tướng nhưng Thiếu tướng cấp quân doàn, không phải Thiếu tướng cấp sư đoàn.

4. Cũng trang 363 sách Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương nhà cầm quyền Trung Cộng, vì nhu cầu tuyên giáo “hậu Thành Đô” đã “giải mật” bản nhận xét để phong quân hàm cho Hồng Thuỷ có đoạn như sau:

“Sau khi Đại Cách mạng thất bại, nhập Đảng trong thời kỳ khủng bố trắng, đối với Đảng, với nhân dân trung thành, trong sáng, ý chí cách mạng kiên định. Trong những hoàn cảnh tàn khốc nhất, khó khăn nhất như bạo động Quảng Châu, Trường Chinh trước sau vẫn tích cực, hăng hái chiến đấu…Trong chiến tranh kháng Nhật ở Tấn Đông Bắc đã có khả năng độc lập tổ chức quần chúng, thành lập Đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang. Ở Việt Nam đã lãnh đạo đúng đắn cuộc chiến tranh chống Pháp ở các chiến khu 5, 6 và 4, củng cố các căn cứ địa của các chiến khu, khiến cho nó có thể đứng vững suốt hơn 7 năm đấu tranh, cuối cùng dành thắng lợi… Đối với sự phân công công tác của Đảng, quyết định của Đảng, nhiệm vụ mà Đảng trao cho đều phục tùng và chấp hành, chưa bao giờ có hành động, biểu hiện chống quyết định của Đảng, không phục tùng tổ chức…”

Bản nhận xét chính thức này của đảng Cộng sản Tầu, hai năm rõ mười, đã cho biết nhân vật Nguyễn Sơn thực sự là ai!

5. Vì hút thuốc lá quá độ, đầu năm 1956 Hồng Thuỷ/Nguyễn Sơn phát hiện bị ung thư phổi. Được chữa trị tận tình nhưng không kết quả, biết không còn sống được bao lâu, Nguyễn Sơn nuốt hận xin được trở về Việt Nam cùng với gia đình và được ông Hồ cho phép.

Không ai biết chính xác Nguyễn Sơn nghĩ gì, tại sao lại muốn trở về để chết ở Việt Nam ?! Lý do chính, chỉ có thể phỏng đoán, có lẽ là vì quá thương và lo cho người vợ Việt Nam và 4 đứa con thơ sẽ phải bơ vơ, lạc lõng trên đất Tầu sau khi người chồng, người cha của họ không còn hiện diện ở nơi dương thế.

Lê Hằng Huân (1926-1991) là tên người vợ trẻ, gia đình thư lễ, con của cụ Sở Cuồng Lê Dư, một nhà biên khảo từng làm việc tại Trường Viễn Đông Bác cổ và cũng là một cây bút chủ lực của tờ Nam Phong Tạp chí. Cụ Lê Dư có 4 người con gái nhan sắc nổi tiếng là “4 nàng tiên đất Quảng Nam”: Lê Hằng Trang mất sớm; Lê Hằng Phương tức thi sĩ Hằng Phương vợ của nhà phê bình văn học nổi tiếng Vũ Ngọc Phan; Lê Hằng Phấn vợ của học giả Hoàng Văn Chí, tác giả của quyển sách Tiếng Anh, được dịch sang 15 thứ tiếng, kể cả tiếng Việt, trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam: “From Colonialism to Communism” (Từ Thực dân đến Cộng sản); Cô út Lê Hằng Huân, lọt vào mắt xanh của ông tướng Tư lệnh Chiến khu 4, “trai anh hùng, gái thuyền quyên” kết hôn năm 1948 lúc tân nương mới 22 tuổi, kém tân lang 18 tuổi và kém người vợ bên Trung Hoa của tân lang, đang mỏi mắt trông chồng, đúng một giáp.

Mao và Đảng Cộng sản Tầu đối xử với Hồng Thuỷ/Nguyễn Sơn có tình nghĩa và khá sòng phẳng. Mao, Chu Ân Lai, Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài, Tổng Tham Mưu trưởng Hoàng Khắc Thành, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh đã cùng gặp mặt đồng chí Tiểu Hồng của họ trong phòng họp của lễ đường Quốc hội để cầm tay nói lời tiễn biệt. Hồng Thuỷ còn bị ép nhận 30,000 nhân dân tệ bằng tiền mặt – là tiền hưu bổng, tiền thuốc thang, tiền phụ cấp gia đình… để đền đáp lại mấy chục năm Hồng Thuỷ xả thân phục vụ cuộc Cách mạng Cộng sản ở Tầu để sau cùng thành lập được nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (??) (30 ngàn nhân dân tệ là một số tiền rất lớn vào lúc bấy giờ có thể mua được 28 căn nhà ở Hà Nội, gấp một ngàn lần lương tháng của một Bộ trưởng Việt Nam, nghĩa là đủ cho một gia đình sống thong dong suốt đời). Lúc rời Bắc Kinh về Việt Nam ngày 27/09/1956 bằng xe lửa, trong toa đặc biệt dành cho cấp lãnh đạo, có bác sĩ và tuỳ tùng hộ tống, Hồng Thuỷ được Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh, Hoàng Khắc Thành và hơn 200 nhân vật công huân khai quốc tới tiễn biệt trước thềm ga xe lửa Tiền Môn.

Nguyễn Sơn và gia đình về Hà Nội cũng được đón tiếp trọng thể, bà con, thân thích vây quanh, được bố trí ở nhà lầu kiểu Pháp gần phủ Chủ tịch. Hôm sau được ông Hồ tiếp kiến, báo chí nhà nước tường thuật “hai thầy trò ôm nhau khóc”. Hai mươi ngày sau thì Nguyễn Sơn chết, tuổi 48, được hưởng nghi thức quốc tang long trọng – có mặt tất cả những nhân vật lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Ngoại giao đoàn – tất nhiên gồm cả Đại sứ Trung Cộng.

Thi sĩ Hữu Loan, người Thanh Hoá, tác giả của “Mầu tím hoa sim”, tuy vậy, viết một bài thơ khóc Nguyễn Sơn có giọng bi phẫn:

Nguyễn Sơn ra đi

không

ai

ngờ…

Những thằng đại xu nịnh ngày xưa

trở mặt

nhưng lịch sử và thời gian

không

bao

giờ

phản trắc

Còn vang dội mãi rừng núi Nưa

tiếng Nguyễn Sơn

một

lần

truyền

hịch

Chỉ ít lâu sau quốc tang Nguyễn Sơn, Lê Hằng Huân mang nộp cho Chính Phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà toàn bộ số tiền 30,000.00 nhân dân tệ, nói là theo ý nguyện của chồng trước khi mất và rời khỏi căn biệt thự kiểu Pháp được nhà nước cho ở. Không có thêm tin tức về số tiền 30,000.00. Nhà nước Việt Nam có thông báo hay không thông báo cho phía Trung Quốc? Giữ lại hay trả lại số tiền cho Trung Quốc? Nếu giữ lại, thì ghi vào mục nào và chi tiêu vào việc gì?

Người quả phụ, tay trắng, từ đó vất vả tự lực nuôi con, sống cơ cực, thiếu thốn và rất âm thầm cho đến khi mất vì ung thư năm 1991. Bên Tầu, hai đứa con khác của Nguyễn Sơn (với người vợ lặng lẽ chia tay nhưng không bao giờ chính thức ly dị Trần Kiếm Qua) may mắn hơn vì được chính quyền Trung Cộng cho hưởng trợ cấp của con liệt sĩ cho đến năm 18 tuổi.

“Tôi đi mãi cuối cùng cũng tìm được một gò đất nhỏ rộng chừng mươi mét vuông nổi lên giữa khu ruộng trũng đầy cỏ lác và hoa súng. Lối vào là một doi đất nhỏ chỉ vừa một người bước chân. Mộ tướng Nguyễn Sơn nằm ở bên trái… Cỏ dại và hoa trinh nữ che gần hết mộ…” Đó là lời một người cháu gọi Lê Hằng Huân là dì ruột kể lại lần đi thăm mộ Nguyễn Sơn vào khoảng cuối 1969 tức vào khoảng 13 năm sau lễ quốc tang. Hiển nhiên “quốc tang” và “quốc táng” là việc rất khác nhau.

▪…ĐẾN BẢN CHẤT

Nhân vật lịch sử Nguyễn Sơn chìm vào quên lãng rất nhanh, ít nhất là ở mặt công khai. Kể từ khi ông mất tháng 10/1956 đến hội nghị Thành Đô tháng 9/1990 là 34 năm, trong 34 năm ấy, rất hiếm có ai công khai nhắc đến Nguyễn Sơn ngoại trừ trong những buổi lễ lạc cần đề cao tình hữu nghị Việt-Trung.

Lý do chính là Nguyễn Sơn là nhân vật “có vấn đề”, nhất là “có vấn đề” với Hồ Chủ tịch – “Bác Hồ ghét Nguyễn Sơn cho nên mới trả đương sự về Trung Quốc”. Từ đó bàn tán, loan truyền những lỗi lầm khác của Nguyễn Sơn: có tài nhưng có tật. Chuyện tình ái, vợ nọ, vợ kia; Chi tiêu tiền bạc bừa bãi; Kiêu ngạo, chuyên quyền, vô kỷ luật, “gây mất đoàn kết” với… các cấp lãnh đạo khác v.v…

Mặt khác, Nguyễn Sơn lại là người của Đảng Cộng sản Tầu, thân tín của Mao Chủ tịch, chỉ trích Nguyễn Sơn công khai là có lỗi với đảng đàn anh, có tội với Bác Mao mà Bác Mao còn cao hơn Bác Hồ. Ngược lại, khen hay bầy tỏ cảm tình với Nguyễn Sơn hoặc gia đình của Nguyễn Sơn cách này hay cách khác là có thể bị xem là xúc phạm đến hoặc kém trung thành với Bác Hồ – “quan thì xa, bản nha lại gần”! Các cán bộ trong Đảng Cộng sản Việt, các sử gia của chế độ trong mấy chục năm đều tránh né việc thảo luận, đề cập đến Nguyễn Sơn vì trông thấy nguy hiểm như đi trong bãi mìn không biết mìn nổ lúc nào. Sự im lặng bấy lâu của Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Đoàn Khuê, Hoàng Minh Thảo, Trần Văn Quang… hay sự im lặng của Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Đào Duy Anh, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê… như vậy là hoàn toàn hiểu được.

Cũng là hoàn toàn hiểu được cái sự đảo ngược 180 độ sau Hội nghị Thành Đô tháng 9/1990: hai Đảng Cộng sản Tầu, Việt đều đồng ý không nên bỏ quên nhân vật lịch sử Nguyễn Sơn lâu hơn nữa, dẫn đến việc Lưỡng quốc Tướng quân được …“tái xuất hiện” với rất nhiều sách, báo, phóng sự, phim ảnh, toạ đàm, hội thảo, tưởng niệm, triển lãm, thăm viếng, giao lưu Trung-Việt… như đã thấy. Tuy nhiên những nhận xét này chỉ hữu ích khi giúp nhìn sâu hơn nữa về mối quan hệ giữa 2 nhân vật Hồ Chí Minh và Nguyễn Sơn:

1. Ngay từ đầu, về phương diện nội bộ, ông Hồ Chí Minh đã là một lãnh tụ có uy tín của Đảng Cộng sản Việt mặc dù chưa được tôn sùng như bậc thánh nhân toàn thiện, toàn mỹ như lúc về sau. Ông có các lý do để được đàn em nể phục. Tuổi tác của ông có nghĩa ông giầu kinh nghiệm, lịch duyệt, đi trước họ 15 hay 20 năm trong chuyện đấu tranh, lại sắc bén, quyết đoán, hiểu biết tâm lý, ngoại giao giỏi, biết dùng người… Trong khi đa số bọn họ luẩn quẩn ở Việt Nam hay vùng biên thuỳ Việt Trung thì ông đã đi khắp nơi, năm châu, bốn biển. Họ không biết ngoại ngữ hay chỉ biết một, hai ngoại ngữ nhưng nói năng còn vấp váp thì họ thấy ông lưu loát: Pháp, Nga, Tầu, Thái… Ông có tiếng tăm từ trước nhưng lại có vẻ kỳ bí…

Tất cả những điểm này đều quan trọng nhưng điểm quan trọng nhất vào thời kỳ ấy là liên hệ của Hồ Chí Minh với Đệ Tam Quốc tế tức là Quốc tế Cộng sản. Ông Hồ xuất hiện như một đại diện có thẩm quyền của Quốc tế Cộng sản hoặc ít nhất ông tự trình bầy như vậy, ông tuyển mộ, huấn luyện, giao công tác nhân danh Quốc tế Cộng sản, nhân danh Stalin. Sau khi Đệ Tam Quốc tế bị giải tán ông làm việc chặt chẽ với Trung ương Đảng Cộng sản Tầu, nhân danh Mao Trạch Đông, luôn cho thấy có những liên hệ đặc biệt mà không đàn em nào của ông có được. Khi ông Hồ bí mật trở về nước năm 1941 để trực tiếp lãnh đạo, Trung ương đảng Cộng sản Việt đã đề nghị ông làm Tổng Bí thư thay Trường Chinh cho “danh chính ngôn thuận”, ông từ chối và khuyến cáo nên giữ Trường Chinh tiếp tục làm Tổng Bí thư. Ít lâu sau ông được tôn làm Chủ tịch Đảng, vị Chủ tịch đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt, khác biệt hẳn các lãnh tụ tiền nhiệm Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong chỉ có danh hiệu Tổng Bí thư.

2. Gần như là chuyện nguyên tắc của tuyên giáo: Những người Cộng sản Việt được coi là xuất sắc nhất đều đương nhiên là học trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Võ Nguyên Giáp chẳng hạn. “Hậu” Thành Đô là trường hợp Nguyễn Sơn, không những quan hệ thầy trò mà còn là tình nghĩa thầy trò sâu đậm. Bác Hồ đối với Nguyễn Sơn có công ơn “dưỡng dục” – dẫn dắt, nuôi ăn ở, dạy dỗ, uốn nắn. Nguyễn Sơn đối với Bác Hồ thì “khẩu phục, tâm phục” chẳng hạn như khi đọc cái danh thiếp “Sơn đệ” đã phải kêu lên “ông cụ khiếp thật!”.

Tuy nhiên, sự thực không đúng như vậy. Nguyễn Sơn là người “không giống ai”, hoặc ít nhất không giống những người Cộng sản dưới trướng của ông Hồ. Nguyễn Sơn nhìn ông Hồ từ một vị trí khác, không có mặc cảm tự ti, không bị ảnh hưởng của huyền thoại hay các loại thông tin nặng tính chất tuyên truyền. Với Nguyễn Sơn, một đảng viên cốt cán của Đảng Cộng sản Tầu, Hồ Chí Minh là Hồ Chí Minh không hơn, không kém:

- Năm 1918: ông Hồ là đảng viên Đảng Xã hội Pháp.

- Năm 1921: ông Hồ bỏ Đảng Xã hội, gia nhập Đảng Cộng sản Pháp mới thành lập từ một bộ phận nhỏ của Đảng Xã hội tách ra, nên được coi là một trong những “sáng lập viên” của Đảng Cộng sản Pháp, một đảng Cộng sản trong một nước tư bản tranh đấu theo đường lối hợp pháp, bất bạo động. Thực tế, ông Hồ là một đảng viên thường, tự phải lo cuộc mưu sinh cá nhân khá vất vả, sinh hoạt chính trị thu hẹp với một vài đảng viên cũng có gốc gác dân thuộc địa như ông – viết báo, viết kiến nghị đòi hỏi chấm dứt chính sách thực dân đế quốc đàn áp, bóc lột các dân tộc bị trị. Hoạt động kêu gọi, đòi hỏi suông của ông không có kết quả mà cũng không tạo được ảnh hưởng gì trong cộng đồng mấy ngàn người Việt sống rời rạc trên đất Pháp. Ông phải đi tìm một lối đi khác.

-1923-1924: ông Hồ bỏ Paris qua sống ở Moscow, làm cán bộ toàn thời gian cho Quốc tế Cộng sản hay còn gọi là Đệ Tam Quốc tế, một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản Liên Xô do Lê-nin mới thành lập năm 1919 với sứ mạng xuất cảng cách mạng theo đúng như lý thuyết: Cộng sản là một chủ nghĩa cách mạng có tính cách quốc tế (a revolutionary internationalism). Đệ Tam Quốc tế cũng là công cụ sách lược của Lê-nin lấy “công” làm “thủ” – bảo vệ Liên Xô chống các cường quốc tư bản thù nghịch bằng cách gây ra những rối loạn trong nội bộ của những nước này. Các đảng Cộng sản được Liên Xô công nhận sẽ được ban cấp tư cách thành viên của Đệ Tam Quốc tế, được trợ cấp tài chánh, được hướng dẫn, giúp đỡ để hoạt động.

Trong thời gian khoảng một năm rưỡi ở Moscow, ông Hồ được huấn luyện tại trường Đại học Lao động Đông Phương về Chủ nghĩa Cộng sản, sách lược “Bôn Sơ Vích”, phương pháp tranh đấu lật đổ chính quyền, kỹ thuật tổ chức, kỹ thuật vận động quần chúng v.v. cùng lúc với khoảng một ngàn học viên người châu Á trong đó phần lớn là nông dân, công nhân và một số nhỏ trí thức. Ông Hồ là người Việt đầu tiên hay là một trong những người Việt đầu tiên được tuyển mộ và huấn luyện làm cán bộ của Đệ Tam Quốc tế theo lối này.

- Cuối 1924, sau khi tốt nghiệp, ông Hồ, lấy tên là Lý Thuỵ, được phái đến Quảng Châu thủ phủ của tỉnh Quảng Đông với danh nghĩa hợp pháp là một trong những thông dịch viên cho Mikhail Borodin, cố vấn của Liên Xô cạnh chính quyền Trung Hoa Quốc Dân đảng đang trong thời kỳ “liên Nga, dung Cộng”. Bên trong ông thực sự là cán bộ của Đệ Tam Quốc tế, lãnh công tác khởi động phong trào cách mạng Cộng sản ở Đông Dương thuộc Pháp, đặc biệt là Việt Nam vì ông là người Việt, biết ngôn ngữ và văn hoá Việt.

Để làm công việc này ông Hồ được Quốc tế Cộng sản cung cấp tiền bạc và phương tiện nhưng rất giới hạn vì Liên Xô vừa thoát khỏi chiến tranh, lại bị “đế quốc” phong toả, bản thân còn rất nghèo. Mặt khác, ở Á Châu, nước Tầu mênh mông với hơn 500 triệu dân là ưu tiên cao nhất trong sách lược của Lenin, Stalin chứ không phải nước Việt Nam bé nhỏ, mười mấy triệu dân, thuộc địa của Pháp. Tầu là “tuồng” chính, Việt là “tuồng” phụ, rất phụ. So sánh trường quân chính bề thế Hoàng Phố mà Liên Xô giúp xây dựng và phát triển mọi mặt với căn nhà thuê cũ kỹ dùng để làm lớp huấn luyện chính trị trong cùng thành phố Quảng Châu của ông Hồ sẽ thấy rõ sự khác biệt. Bù lại, ông Hồ nhận được sự giúp đỡ ít nhiều của Đảng Cộng sản Tầu thời gian ấy trong tinh thần “vô sản quốc tế liên hiệp lại!”.

Công tác chính của ông Hồ là tuyển mộ và huấn luyện thanh niên Việt rồi gửi về Việt Nam hoạt động. Một số nhỏ ở lại Tầu, một vài người qua Thái Lan hoạt động trong cộng đồng Việt Kiều ở Miền Đông Bắc.

Các khoá huấn luyện chính trị do ông Hồ tổ chức thường chỉ kéo dài vài tháng, với vài chục học viên. Nội dung huấn luyện gồm các bài học tương tự như ông đã học ở Liên Xô 1,2 năm trước được giản lược và thay đổi ít nhiều cho hợp với tính cách của người Việt.

Nói chung các lớp huấn luyện đều ở trình độ nhập môn, tương đối thấp. Trong tổng số hơn 200 học viên xuất thân ở đây đa số trở thành các đảng viên cấp cơ sở. Một số rất nhỏ trở thành cán bộ lãnh đạo thì hoặc đã có học thức khá từ trước hoặc phải tiếp tục học nhiều hơn ở các nơi khác. Chẳng hạn như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng, Hà Huy Tập đều được tiếp tục huấn luyện “cao cấp” ở trường quân sự Hoàng Phố ở Quảng Châu hay Đại học Lao động Đông Phương ở Moscow.

Trường hợp Nguyễn Sơn cũng tương tự. Cuối 1925, Nguyễn Sơn, 17 tuổi, được ông Hồ gửi người về nước tuyển mộ, bỏ vợ dại con thơ, trốn qua Tầu học làm Cách Mạng. Cuộc phiêu lưu của Nguyễn Sơn thấp thoáng giống như trong lời thơ “Tống Biệt Hành” của thi sĩ Thâm Tâm:

Một giã gia đình, một dửng dưng

Ly khách, ly khách con đường nhỏ

Chí lớn không về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại

Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Nhưng Nguyễn Sơn không chỉ đi có 3 năm mà đi gần 7 lần lâu hơn thế.

Nguyễn Sơn trải qua khoá huấn luyện chính trị sơ cấp, rồi giống như các học viên khác, gia nhập Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội do ông Hồ sáng lập, trở thành một trong những người Cộng sản Việt thời kỳ đầu. Tuy vậy, Nguyễn Sơn không thực sự hoạt động gì cho Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội vì cuộc đời ngay sau đó đi vào một ngã rẽ khác hẳn khi được hai cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Tầu là Thái Xương và Lý Phú Xuân giới thiệu vào học ở trường Hoàng Phố.

Tình nghĩa thầy trò giữa ông Hồ và Nguyễn Sơn, nếu có, thì cũng chỉ có thế, nghĩa là không có gì đặc biệt hay khác hơn tình nghĩa thầy trò giữa ông Hồ và những học viên khác đã được móc nối tham dự khoá huấn luyện chính trị mà ông tổ chức ở Quảng Châu theo chỉ thị của Đệ Tam Quốc tế và sự tài trợ nuôi ăn học các học viên này trong mấy tháng cũng bằng ngân quỹ của Đệ Tam Quốc tế. Khẳng định Nguyễn Sơn đã được ông Hồ “cải hoá” một cách đặc biệt ở bên Pháp lúc mới 15 tuổi xem ra không có cơ sở vì không có bằng chứng hay dấu vết Nguyễn Sơn từng đặt chân trên đất Pháp.

- Tháng 6/1927 ông Hồ bắt buộc phải rời Trung Hoa trở lại Moscow theo chân Borodin. Bối cảnh là sau khi Tôn Dật Tiên mất năm 1925, Tưởng Giới Thạch chấm dứt chính sách “liên Nga, dung Cộng”, dùng nhân lực đào tạo từ trường Hoàng Phố, tiến hành cuộc hành quân Bắc Phạt, dẹp nạn sứ quân, mở rộng thế lực chính quyền Quốc Dân Đảng, cùng lúc thanh lọc hàng ngũ, trục xuất các cố vấn Liên Xô, đàn áp các cuộc nổi dậy của Đảng Cộng sản Tầu ở Thượng Hải, Quảng Châu, Vũ Hán.

- Ông Hồ đến Hongkong theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản tháng 2/1930, họp với các đại biểu của 3 đảng Cộng sản nhỏ đang hoạt động riêng rẽ ở Việt Nam và giúp hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội Đảng kỳ 1 tháng 10/1930 đổi tên đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Trần Phú được bầu là Tổng Bí thư đầu tiên. Đến lúc này Đảng mới được chính thức gia nhập Quốc tế Cộng sản như là một thành viên và được trợ cấp mỗi tháng ước chừng khoảng 5000 quan Pháp, tương đương 1250 Mỹ kim theo thời giá của năm 1930 như ghi nhận của một số tài liệu đã được công bố.

- Tháng 6/1931 ông Hồ bị chính quyền Anh bắt giam tại Hongkong nhưng được phóng thích vào đầu năm 1932 và trở lại Hoa Lục hoạt động nhưng không có kết quả gì đáng nói.

- Khoảng thời gian 1933-1938 là thời kỳ ông Hồ trở về Moscow dưỡng bệnh, rồi bị cưỡng bách học tập trong không khí sợ hãi ngột ngạt vì chính sách “đại khủng bố để thanh lọc” của Stalin áp đặt trên toàn thể xã hội Liên Xô lúc đó. Ông Hồ cũng không được phép tự ý liên lạc với những người Cộng sản Việt Nam khác.

- Cuối năm 1938 ông Hồ trở lại Trung Hoa theo sắp xếp của Quốc tế Cộng sản để liên lạc lại với Trung ương Đảng Cộng sản Việt sau mấy năm gián đoạn. Khác với các lần đến Hoa Lục trước đây, lần này ông Hồ “hội nhập” nhiều hơn với Đảng Cộng sản Tầu. Ông đến Diên An nhưng không có tài liệu nào nói ông được Mao tiếp kiến – Mao quá bận hay Mao không chú ý mấy đến cá nhân Hồ Chí Minh? Ông Hồ gia nhập Bát Lộ Quân, trở thành thiếu tá Hồ Quang đi công tác ở Quế Lâm (Quảng Tây), rồi lại làm việc ở Hành Dương (Hồ Nam), được chọn làm bí thư một đơn vị huấn luyện du kích. Điều này chứng tỏ ông Hồ cũng là đảng viên Đảng Cộng sản Tầu và có lẽ gia nhập Đảng vào một thời điểm trong năm 1939. Nếu quả đúng như vậy “tuổi đảng” của Hồ Chí Minh (Hồ Quang) ít hơn tuổi Đảng của Nguyễn Sơn (Hồng Thuỷ) khoảng 12 năm và “tuổi quân” của ông trong Bát Lộ Quân, cũng cách biệt tương tự với Nguyễn Sơn.

Tháng 2/1940, tức là phải hơn một năm sau khi trở lại Trung Hoa, tại Côn Minh (Vân Nam), nhờ sự giúp đỡ của cơ sở Cộng sản Tầu địa phương, ông Hồ gặp được cán bộ của Đảng Cộng sản Việt đang muốn mời ông về nước để trực tiếp lãnh đạo đảng sau khi Tổng Bí thư Lê Hồng Phong bị Pháp bắt. Từ đây trở về sau ông Hồ dùng tên Hồ Chí Minh, cùng một ý nghĩa như tên Hồ Quang.

Vì Pháp vừa bại trận trong tay Hitler ở Âu Châu nên thời cơ đã đến sớm hơn dự kiến. Đầu 1941 ông Hồ về nước cùng với Trung ương Đảng Cộng sản Việt, lập căn cứ sát biên giới Việt – Trung, xuất bản báo tuyên truyền cổ động, tổ chức quần chúng, chuẩn bị xây dựng lực lượng vũ trang du kích, mở đường phát triển về phía Nam.

Tháng 8/1942 ông Hồ lén sang Trung Hoa để đi gặp Trung ương Cộng sản Tầu ở Hoa Bắc báo cáo tình hình, yêu cầu yểm trợ, đặc biệt vũ khí cho các đội quân du kích. Tuy nhiên mới đến Quảng Tây thì ông đã bị chính quyền Trung Hoa Dân Quốc ở địa phương bắt giam vì nghi là gián điệp. Tháng 9/1943, sau khi điều tra biết rõ Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc – lãnh tụ của Cộng sản Việt, tư lệnh Chiến khu 4 Trương Phát Khuê ra lệnh phóng thích ông Hồ. Tháng 8/1944 ông Hồ về nước và được Trương Phát Khuê cấp cho một số súng và đạn dược để chống kẻ thù chung là Nhật (và cả Pháp).

Tháng 3/1945 Nhật đảo chính Pháp trên toàn Đông Dương. Lực lượng quân sự của Pháp tan rã, một số khá lớn binh sĩ Việt trong quân đội Pháp đào ngũ và gia nhập Việt Minh với đầy đủ súng đạn. Đột nhiên lực lượng vũ trang của Việt Minh tăng gấp 5 lần, từ 1000 lên 5000 tay súng rồi nhờ thế chiếm được 6 tỉnh ở thượng du Bắc Việt…dẫn đến cơ hội Việt Minh chiếm chính quyền ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh như đã nói ở phần trước.

3. Nguyễn Sơn, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh có mối quan hệ tay ba phức tạp.

Những tài liệu lịch sử được giải mật cho thấy khá rõ Nguyễn Sơn phục Mao Trạch Đông nhưng không phục Hồ Chí Minh. Nguyễn Sơn xem Mao là thầy, là lãnh tụ, là thượng cấp và trung thành với Mao. Nguyễn Sơn không xem Hồ Chí Minh là thầy, là lãnh tụ, là thượng cấp và không thấy có lý do phải trung thành với Hồ Chí Minh. Tuy nhiên những điều này không có nghĩa Nguyễn Sơn âm mưu lật đổ Hồ Chí Minh để thế chỗ. Ngang tàng, bất phục thì có nhưng bằng cớ hay dấu hiệu của một tính toán soán đoạt thì không. Nguyễn Sơn được xem là loại người nóng tính nhưng không thâm hiểm. Ngoài ra nếu Mao không bật đèn xanh thì Nguyễn Sơn, nhiều phần, sẽ không làm gì, không dám làm gì để vi phạm kỷ luật rất khắt khe của Đảng Cộng sản Tầu về mặt chính sách.

Một câu hỏi thuận lý kế tiếp ngay: Nhưng nếu Mao thấy cần phải thay thế đảng viên “Hồ Quang” bằng đảng viên “Hồng Thuỷ” là người được Mao tín cẩn hơn thì sao? Câu trả lời, cũng thuận lý, sẽ là: Nguyễn Sơn chắc sẽ “rất vui lòng” chấp hành mệnh lệnh của Mao bởi vì ngoài nghĩa vụ phải chấp hành, có ai từ chối làm “An Nam Quốc Vương” hay chỉ “An Nam Đô Thống sứ”, trong trường hợp đặc biệt này?

Đối tượng của chính trị là quyền lực. Là một chính trị gia lão luyện, Hồ Chí Minh phải nhìn thấy Nguyễn Sơn là một vấn đề nan giải, một mối mối nguy lớn dần đang đe doạ quyền lực của mình. Tuy nhiên Hồ Chí Minh không thể chống lại Mao Trạch Đông. Cái bóng của Mao gần quá, lớn quá. Không kể vai vế trong phong trào Cộng sản Quốc tế tại Á Châu, cũng như quan hệ cấp trên, cấp dưới trong Đảng Cộng sản Tầu, Hồ Chí Minh lại cần Mao hơn bao giờ hết.

Bất kể quân đội Việt Minh anh dũng chấp nhận hy sinh xương máu đến thế nào, nếu không có sự viện trợ lớn lao và toàn diện của Trung Cộng kể cả huấn luyện, trang bị súng ống, tiếp tế đạn dược, quân trang, lương thực, thuốc men cho các sư đoàn chính qui thì sẽ không có Đông Khê, Thất Khê, không có Vĩnh Phúc Yên, không có Điện Biên Phủ…

Ngay cả Việt Minh vẫn còn cầm cự được với quân viễn chinh Pháp lâu hơn dự liệu nhưng ông Hồ có muốn làm lãnh tụ du kích thêm 10 năm, 15 năm hay chết già ở trong rừng không? Có gì ngăn cản Trung ương Đảng Cộng sản Việt chọn viện trợ của Mao để sớm thắng Pháp thay vì tiếp tục trung thành với Hồ Chí Minh để bị gian khổ hơn và không biết còn kéo dài đến bao giờ ?

Muốn giữ địa vị một cách chắc chắn, ông Hồ Chí Minh, như thế, chỉ còn một chọn lựa là phải cạnh tranh với Nguyễn Sơn để thoả mãn Mao, thoả mãn tất cả những đòi hỏi của Mao – những đòi hỏi đã nói ra và cả những đòi hỏi không tiện nói ra nhưng kẻ ở thế yếu hơn phải tự biết. Mao có sẵn tai mắt ở Việt Nam để ghi nhận mọi chuyển biến và diễn biến.

Hồ Chí Minh phải chứng tỏ trung thành với Mao với mức độ ngang bằng hay hơn cả Nguyễn Sơn.

Hồ Chí Minh phải chứng tỏ là một “người Cộng sản chân chính” bác bỏ chủ nghĩa dân tộc “hẹp hòi” để tiến tới một thế giới đại đồng không còn biên cương với nước Trung Hoa vĩ đại.

Hồ Chí Minh phải chứng tỏ sự ngưỡng mộ, thấm nhuần văn hoá Trung Hoa.

Hồ Chí Minh phải chứng tỏ có khả năng tận dụng sự chi viện của Mao, hợp tác chặt chẽ với các cố vấn Tầu để chống Pháp, chống Mỹ.

Hồ Chí Minh phải chứng tỏ chế độ Cộng sản ở VN là tuyệt đối thân Tầu, tuyệt đối làm một phiên bản nhỏ của chế độ Cộng sản ở Trung Hoa.

Hồ Chí Minh đã làm tất cả những điều này từ năm 1950 trở đi, từ “Cải cách ruộng đất”, “Trăm hoa đua nở” đến xuất bản “Ngục trung nhật ký”, xướng hoạ thơ với các cố vấn Tầu, thân thiết với La Quy Ba, Vi Quốc Thanh, Trần Canh… đến chiến lược, chiến thuật, phương cách tổ chức Đả ng, tổ chức quân đội, chính sách công an, hộ khẩu, kinh tế, xã hội, văn hoá… nhất nhất rập khuôn…đến những buổi họp trang trọng treo hình Mao (còn sống) ngang hàng các đại lãnh tụ Cộng Sản Marx, Lenin, Stalin (đã chết), luôn luôn tung hô “Chủ nghĩa Mác Lê Nin và Tư tưởng Mao Trạch Đông”… đến những vần thơ minh hoạ chính sách mang đặc trưng của thời đại Hồ Chí Minh tại Miền Bắc Việt Nam:

Giết, giết nữa! Bàn tay không lúc nghỉ.

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong

Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt!

( Tố Hữu )

Bên kia biên giới là nhà

Bên ni biên giới cũng là quê hương.

( Tố Hữu )

Bác Mao không phải đâu xa

Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao!

( Chế Lan Viên )

Dù có chút tình riêng thiên vị Hồng Thuỷ/Nguyễn Sơn, lịch sử cho thấy Mao Trạch Đông luôn hành động theo lý trí của một chiến lược gia có tham vọng “bình thiên hạ” như Tần Thuỷ Hoàng gồm thâu lục quốc, đã không còn có lý do, đã không cảm thấy sự cần thiết phải “thay ngựa giữa dòng” mặc dù hoàn toàn có thừa quyền lực để làm như vậy.

Hậu quả là nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh là Hồ Chủ tịch trọn đời nhưng nước Việt Nam lại lún rất sâu vào vòng lệ thuộc ngoại bang và có nguy cơ không còn tồn tại.

Đến đây xin mượn câu nói của Winston Churchill năm 1948 để kết thúc bài tiểu luận đã khá dài : “Those who fail to learn from history are condemned to repeat it”!

C.T.

(Tháng 2/2020)

Tác giả gửi BVN

This entry was posted in Hồ Chí Minh, Mặt thật CSVN. Bookmark the permalink.

Comments are closed.