9/02/2018
Trang Đầu » Ngoại Giao

Quan hệ Việt – Mỹ đang tăng trưởng trong hợp tác quốc phòng, tìm kiếm lính Mỹ mất tích, rà phá bom mìn, hợp tác giáo dục,… Nhưng còn điều gì khiến mối quan hệ hai quốc gia còn trục trặc?

Ánh Liên lược dịch

Tác giả Le Thu Huong, trong một bài đăng tải trên chuyên trang bình luận chính trị ASPI – The Satrategist đã có những chia sẻ đáng lưu ý, trong đó dù trong bất cứ hoàn cảnh nào – thì Việt Nam phải luôn cần Mỹ, sự gia tăng sức ép của Trung Quốc càng lớn, thì Mỹ càng cần phải hiện diện.

Về mặt quốc phòng, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis gần đây đã thực hiện chuyến đi đầu tiên của ông tới Đông Nam Á. Đáng lưu ý, chuyến thăm Indonesia và Việt Nam đã được liệt kê trong chiến lược an ninh quốc gia mới gần đây của Washington và là đối tác quốc phòng có ý nghĩa ngày càng tăng trong khu vực. Chuyến đi này không chỉ đánh dấu vai trò lớn hơn của hai quốc gia trong khu vực, mà còn là dấu hiệu cho thấy Washington đang tăng cường hợp tác ngoài các liên minh hiệp ước khu vực (Thái Lan và Philippines). Ông Mattis khẳng định rằng Mỹ muốn có mối quan hệ mạnh mẽ hơn với một Việt Nam mạnh mẽ hơn.

Hà Nội đã có những nỗ lực tích cực từ những ngày đầu của chính quyền mới của Mỹ. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là người đứng đầu nhà nước Đông Nam Á đầu tiên và thứ ba từ châu Á (sau Thủ tướng Nhật Shinzo Abe và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình) – gặp mặt Tổng thống Donald Trump ở Washington. Nhiều chuyến thăm cấp bộ cũng đã diễn ra và Tổng thống Mỹ đã viếng thăm Việt Nam vào tháng 11 năm ngoái nhân sự kiện APEC.

Ý tưởng chuyến thăm của một tàu sân bay Mỹ đã được đưa ra trong chuyến thăm Washington của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch vào tháng Tám vừa qua. Tại Hà Nội, Mattis gặp Chủ tịch nước Trần Đại Quang, thăm chùa Trấn Quốc và thảo luận về kế hoạch cho tàu USS Carl Vinson đến Đà Nẵng vào tháng Ba, năm 2018. Đây là chuyến thăm lần đầu tiên kể từ khi quân Mỹ rời khỏi Việt Nam – chấm dứt chiến tranh vào năm 1975. Chỉ hai ngày trước khi Mattis đến, Mỹ cam kết khắc phục hậu quả dioxin tại Căn cứ Không quân Biên Hòa.

Trong khi đó, sự kiện kỷ niệm 50 năm Tết Mậu Thân – có thể không gây ra một cuộc tranh cãi có yếu tố lịch sử, mà lại bắt nguồn từ các thế lực hiện tại trong khu vực.

Vậy Trung Quốc thế nào? 

Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nói rằng Trung Quốc không phản đối chuyến viếng thăm của ông Carl Vinson tới Việt Nam, nhưng Hoàn Cầu thời báo của ĐCSTQ cảnh báo về ‘vạch đỏ’ mà Mỹ và Việt Nam không nên vượt qua. Bắc Kinh muốn các yếu tố bên ngoài, như Mỹ, phải tránh xa sự tranh chấp mà nước này cho là song phương. 

Sự không hài lòng của Trung Quốc đối với việc Washington nối lại quan hệ với Hà Nội không phải là điều đáng ngạc nhiên, vì sự phát triển này diễn ra giữa lúc căng thẳng hai nước bùng phát, ngay sau khi chiến lược quốc phòng của Mỹ được công bố, và rõ ràng ‘đối thủ chiến lược’ là nhằm vào Trung Quốc. Thêm vào đó, hoạt động tự do hàng hải (FONOP) được triển khai gần đây nhất bởi một tàu chiến từ Mỹ, khi vào ngày 17 tháng Một, chiến hạm USS Hopper đã đi gần bãi biển Scarborough – một khu vực tranh chấp chủ quyền giữa Manila và Bắc Kinh, vào năm 2012. Phía Trung Quốc nhấn mạnh rằng FONOP đã vi phạm chủ quyền và Bắc Kinh buộc phải tăng cường khả năng phòng thủ, bao gồm tăng cường thiết lập các cơ sở quân sự trên các hòn đảo nhân tạo. Về phía Hà Nội, cũng đang tích cực duy trì các yêu sách của mình ở Biển Đông. Chuyến thăm của Mattis đến các nước Đông Nam Á, và đặc biệt là cam kết hợp tác chặt chẽ hơn với Hà Nội, khiến Bắc Kinh cảm thấy phiền phức.

Và cách Trung Quốc ứng phó là hình thành một truyền thống báo hiệu những gì họ mong muốn từ các nước láng giềng và những gì họ không muốn xảy ra. Chẳng hạn, bằng ngoại giao, Bắc Kinh thường xuyên tuyên bố với một số quốc gia, chẳng hạn như Việt Nam, rằng Hà Nội đang phản ứng quá mức. Và lối chỉ trích cứng rắn của Trung Quốc – là một phần của chiến lược của Bắc Kinh. Theo đó, nó đề cao sự bất mãn của nước này trước khi đi đến sự cưỡng chế nhằm thay đổi hành vi của quốc gia mục tiêu.

Để phản ứng thích hợp với Trung Quốc, Việt Nam cần sự ủng hộ mạnh mẽ và liên tục của Mỹ. Và có lẽ, Hà Nội đã phát triển một phản ứng thích hợp nhằm chống lại sự cưỡng chế từ phía người bạn lớn của mình. Chẳng hạn, tháng Năm, năm 2014, khi Trung Quốc triển khai giàn khoan dầu HYSY-981 vào vùng biển Việt Nam, Hà Nội đã phát động chiến dịch ngoại giao và truyền thông tập trung để chống lại sự cưỡng ép của Trung Quốc. Kết quả là, Trung Quốc đã rút lại giàn khoan trước thời hạn. Tuy nhiên, vào tháng Bảy, năm 2017, dưới áp lực của Bắc Kinh trong việc yêu cầu ngừng thăm dò khí đốt với công ty Repsol, Hà Nội phải cúi đầu. Tất nhiên, phản ứng trong mỗi tình huống sẽ tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vấn đề và các yếu tố khác như lợi ích từ nhượng bộ hoặc cái giá phải trả để chống lại sự cưỡng ép từ Trung Quốc. 

Trong bối cảnh đó, rõ ràng, Hà Nội coi chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ là một cơ hội có giá trị đối với Trung Quốc, tuy nhiên vẫn còn một số chỗ để đàm phán, có lẽ về thời gian của chuyến thăm, thời gian lưu trú của tàu sân bay và những gì mà Hà Nội có thể nói về tầm quan trọng của nó. Tuy nhiên, Hà Nội cần có sự cam kết liên tục của Washington rằng lập trường cứng rắn của Mattis đối với Trung Quốc không phải là sự tạm thời và rằng một cam kết của Washington đối với Biển Đông vẫn nằm trong danh sách ưu tiên của Trump.

Nguồn: Aspistrategist

VNTB gửi BVN