Kiến nghị bảo vệ quyền hành nghề luật sư

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 04 tháng 8 năm 2020

ĐƠN KIẾN NGHỊ

(Đề nghị có biện pháp bảo vệ quyền hành nghề luật sư)

Kính gửi:

– Liên đoàn luật sư Việt Nam

Chúng tôi gồm: Những người có tên trong danh sách dưới đây.

Là các luật sư có ý thức trách nhiệm trước cộng đồng khách hàng và trách nhiệm với nghề nghiệp, chúng tôi cùng nhất trí kiến nghị Liên đoàn Luật sư Việt Nam có biện pháp bảo vệ quyền hành nghề luật sư như sau:

Vấn đề thứ nhất:

Hiến pháp năm 2013 tại Điều 31, khoản 4 quy định: Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Tại Điều 103 khoản 7 quy định: Quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm.

Nhưng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, một văn bản pháp lý cấp thấp hơn Hiến pháp lại có quy định hạn chế lược bớt một phần quyền bào chữa của bị can, bị cáo tại Điều 74 như sau: Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện Kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Về bản chất Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự như trên là trái với quy định của Hiến pháp.


Continue reading

Posted in Luật sư và Tòa án CS | Leave a comment

Nhân việc thành lập “nghiệp đoàn độc lập” nhìn lại những quy định về việc thành lập hội của nhà nước VN qua dự thảo luật Hội

TK Tran

Đầu tháng 7 vừa qua một thông báo cho biết một nghiệp đoàn độc lập nhằm bảo vệ quyền lợi của công nhân ra đời [1; 2].

Chưa ai biết rõ những người cầm đầu là ai, thực chất của nghiệp đoàn này ra sao, song sự kiện này có lẽ sẽ mở đầu cho sự xuất hiện một loạt nghiệp đoàn độc lập khác, nằm trong khuôn khổ thỏa thuận của nhà nước VN với EU trong hiệp ước thương mại EVFTA [3].

Quan điểm của nhà nước VN đối với việc thành lập những Hội Đoàn tương tự như thế nào?

VN chưa ban hành chính thức luật Hội. Từ năm 2006 khi dự thảo đầu tiên được “trình làng”, luật Hội được sửa chữa tới, sửa chữa lui, tới nay hơn chục lần, nhưng nhà nước vẫn chưa hài lòng. Tháng 10 năm 2016, chính phủ lại đề nghị Quốc hội lui việc bàn thảo và chuẩn y luật Hội. Từ đó tới nay dự thảo vẫn chưa được sửa đổi hoặc bàn thảo lại.

Bài viết này kiểm điểm lại cái nhìn của nhà nước với Hội qua dự thảo luật cuối cùng để đánh giá cơ may của sự thành lập các nghiệp đoàn độc lập thực sự.

Dự thảo luật Hội, phiên bản 27.10.2016 [4]

1- Nguyên tắc quan trọng nhất của nhà nước là phải nắm chắc sự kiểm soát các Hội Đoàn:

Điều 7 Chương 1 viết rằng “nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền lập Hội của công dân VN”, song không quên kèm thêm điều kiện “phải theo đúng quy định của Hiến pháp”, có nghĩa là phải công nhận sự lãnh đạo của đảng CS. Quan trọng hơn, cần lưu tâm nhiều hơn là điều 4 dự thảo Hội: “Hội… góp phần thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước…”. Có nghĩa là nhà nước không buông lỏng sự kiểm soát Hội Đoàn.

2- Các phương thức của nhà nước để kiểm soát Hội Đoàn:

– Rào cản hành chính: Giấy chứng nhận đăng ký, giấy công nhận điều lệ Hội, giấy công nhận người đứng đầu Hội

Không như ở các nước dân chủ, nơi mà nhà nước chỉ cần được thông báo về việc thành lập Hội, ở VN Hội Đoàn muốn được hoạt động thì trước hết phải được nhà nước cho phép thông qua việc cấp “Giấy chứng nhận đăng ký thành lập”, việc “công nhận điều lệ và người đứng đầu Hội” (điều 4, điều 5). Không có những giấy phép này thì không được hoạt động.

– Loại bỏ cá nhân sáng lập Hội đang nằm trong “tầm nhắm“ của nhà nước:

Điều 8 viết rằng những người bị kết án tù có thời hạn không được thành lập Hội. Không những thế, ngay cả những người “đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, có nghĩa là mới bị lên án, chưa có án chính thức, trên nguyên tắc còn vô tội cũng bị cấm thành lập Hội. Điều này cản trở việc lập Hội của những nhà hoạt động dân chủ đã một lần bị bắt hay đang bị nhà nước xét xử.

Continue reading

Posted in EVFTA, Tự do lập hội | Leave a comment

Biển Đông: Phát hiện Mỏ Kèn Bầu ‘lớn nhất’ lịch sử, VN có lo TQ can thiệp?

Mỹ Hằng – BBC News Tiếng Việt


Ngành dầu khí Việt Nam vừa công bố phát hiện một mỏ dầu khí – Mỏ Kèn Bầu – được cho là lớn nhất trong lịch sử của ngành trên Biển Đông.

Kế hoạch khai thác mỏ này như thế nào? Và liệu rằng Việt Nam có nguy cơ lại bị Trung Quốc đe dọa đến mức phải từ bỏ việc phát triển mỏ khí này?

Chuyên gia Việt Nam và nhà điều hành ENI (Ý) trong ngày phát hiện dầu khí tại Mỏ Kèn Bầu

BBC News Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Lê Minh, chuyên gia tư vấn chiến lược và thị trường, thành viên Hội đồng Biên tập và Phản biện Tạp chí Năng lượng Việt Nam, quanh các vấn đề này.

BBC: Được biết vừa qua ngành dầu khí Việt Nam mới đây công bố việc phát hiện ra mỏ Kèn Bầu với trữ lượng dầu khí rất lớn. Ông có thể cho biết về phát hiện này?

Ông Nguyễn Lê Minh: Mỏ Kèn Bầu nằm trong Lô Dầu khí 114, hiện do công ty điều hành dầu khí ENI Vietnam BV làm nhà điều hành thông qua Hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC). Trong PSC tại liên doanh ENI Viet Nam BV thì ENI (Ý) nắm 50% cổ phần và ESSAR E&P Limited (Ấn Độ) nắm giữ 50% cổ phần trong giai đoạn tìm kiếm thăm dò.

Theo PetroVietnam, tháng 5/2019, nhà điều hành thực hiện giếng khoan thăm dò thứ nhất, 114 KB-1X. Đến 29/2/2020, họ bắt đầu giếng khoan thẩm lượng thứ hai, 114 KB-2X, đến 29/7/2020 thì kết thúc (khoan 150 ngày).

Kết quả thử vỉa cả hai giếng khoan này, cho thấy tiềm năng trữ lượng khí rất lớn, ước tính từ 7 đến 9 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên (Tcf), tương đương 200 đến 255 tỷ mét khối khí tại chỗ và khoảng từ 400 đến 500 triệu thùng khí ngưng tụ (condensate).

Nếu các bước đánh giá phân cấp trữ lượng tiếp theo bảo lưu kết quả này, hoặc gần với kết quả này, thì đây là phát hiện lịch sử và là mỏ khí lớn nhất tính đến hiện tại của ngành dầu khí Việt Nam.

PetroVietnam cho hay có thể trong thời gian tới sẽ khoan thêm một vài giếng nữa trong Mỏ Kèn Bầu.

BBC: Kế hoạch khai thác mỏ này như thế nào? Hợp tác với những đối tác nào?

Ông Nguyễn Lê Minh: Hiện các bên chưa có kế hoạch cụ thể vì kết quả trên đây mới chỉ là ước tính trữ lượng tại chỗ trong quá trình khoan thẩm lượng, phải qua các bước tiếp theo như đánh giá, lập báo cáo trữ lượng thì mới ra kết quả chính thức. Sau đó, mới công bố phát hiện thương mại để đi vào giai đoạn phát triển khai thác.

Tuy nhiên, từ tiềm năng như trên thì cơ cấu hoạt động có thể sẽ tương tự như ở mỏ Cá Voi Xanh. Theo đó, dự kiến, Mỏ Kèn Bầu có thể đưa vào phát triển khai thác từ năm 2028, gồm có ba lĩnh vực.

Lĩnh vực thượng nguồn, theo hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC) lô 114, cơ cấu cổ phần hiện tại là ENI 50% và ESSAR 50%. Sau khi công bố thương mại, PetroVietnam sẽ tham gia vào PSC với tỷ lệ cổ phần là 20%.

Lĩnh vực trung nguồn và hạ nguồn, sẽ có sự tham gia của các công ty thành viên PVN như Tổng công ty khí (PVGas), Tổng công ty điện lực dầu khí (PVPower) và đối tác mua điện là Tập đoàn điện lực (EVN).

Đối với trung nguồn, do đây là mỏ khí và condensate nên PVGas sẽ tham gia xây dựng và điều hành đường ống dẫn khí về bờ đến nhà máy xử lý khí, sau đó phân phối khí cho các nhà máy điện, khu công nghiệp và khí thương phẩm bán ra thị trường.

Đối với hạ nguồn ở các nhà máy điện, PVN sẽ tham gia trực tiếp hoặc liên doanh, hoặc giao cho PVPower làm chủ đầu tư đối với ở ba hoặc bốn nhà máy điện.

Nếu tương tự mỏ Cá Voi Xanh, các hoạt động từ thượng, trung và hạ nguồn sẽ được tính trong vòng đời 20 năm hoặc 25 năm vận hành và khai thác thương mại, khởi đầu năm 2028.


Continue reading

Posted in Biển Đông, Dầu mỏ | Leave a comment

Tại sao Việt Nam không nên phát triển điện hạt nhân bằng mọi giá?

Lê Hồng Hiệp


Đến cuối năm 2019, tổng công suất phát điện lắp đặt của Việt Nam là 54,88 GW, bao gồm điện than (33,2%), thủy điện lớn (30,1%), dầu khí (14,8%), và thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo (20,3%). Việt Nam hiện đặt mục tiêu tăng gấp đôi công suất lên 130 GW vào năm 2030. Trong một kịch bản được trình bày tại hội thảo, Viện Năng lượng dự kiến tổng công suất lắp đặt của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng sau đó và có thể đạt mức 268 GW vào năm 2045.

Như vậy, nếu Việt Nam đạt công suất điện hạt nhân là 5 GW vào năm 2045, thì công suất này chỉ chiếm 1,9% tổng công suất lắp đặt dự kiến của Việt Nam vào thời điểm đó – một tỷ lệ không đáng kể.

Tại một hội nghị vào tháng trước về Quy hoạch Điện VIII ( 2021-2030) do Bộ Công Thương tổ chức, các chuyên gia Viện Năng lượng, cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch phát triển năng lượng ở Việt Nam, đã đề xuất đưa điện hạt nhân vào cơ cấu năng lượng của Việt Nam sau năm 2040. Cụ thể, Viện dự kiến năng lượng hạt nhân sẽ đóng góp 1 gigawatt (GW) điện cho Việt Nam vào năm 2040 và 5 GW vào năm 2045.

Đến cuối năm 2019, tổng công suất phát điện lắp đặt của Việt Nam là 54,88 GW, bao gồm điện than (33,2%), thủy điện lớn (30,1%), dầu khí (14,8%), và thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo (20,3%). Việt Nam hiện đặt mục tiêu tăng gấp đôi công suất lên 130 GW vào năm 2030. Trong một kịch bản được trình bày tại hội thảo, Viện Năng lượng dự kiến tổng công suất lắp đặt của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng sau đó và có thể đạt mức 268 GW vào năm 2045.


Continue reading

Posted in Điện hạt nhân | Leave a comment

“Chính quyền Việt Nam ‘hình sự hóa’ quyền tự do ngôn luận của người dân”

RFA – 2020-08-04

“Bản chất của quyền tự do ngôn luận cần phải được hiểu là để cho người dân khi họ có sự bất bình hay có những điều không hài lòng với Đảng lãnh đạo và Chính phủ thì họ có quyền tự do bày tỏ nỗi bức xúc đó qua phương tiện báo chí hay phương tiện xã hội. Một khi quyền tự do ngôn luận được ghi trong Hiến pháp để bảo vệ cái quyền đó thì có nghĩa là đã chấp nhận sự đối lập về quan điểm, về cách nhìn và suy nghĩ tư tưởng của người dân với chính quyền rồi. Cho nên mới cần Hiến pháp để bảo vệ những quyền đó. Ngay như Luật Báo chí của Việt Nam, mặc dù không nói thẳng ra nhưng cũng định nghĩa rõ ràng là quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí là người dân được tự do bày tỏ quan điểm của họ về mọi vấn đề như kinh tế, chính trị, xã hội…ở trong nước và quốc tế. Quyền tự do ngôn luận không đề cập đến nói tốt hay nói xấu, phê bình hay chỉ trích nhưng mục đích chính là để cho người dân bày tỏ những bức xúc hay những quan điểm chính trị khác biệt đối với nhà cầm quyền”.

Thế nhưng, Luật sư Nguyễn Văn Đài khẳng định quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam được Chính quyền Việt Nam mặc định với bản chất là công dân Việt Nam hay công dân bất kỳ của một quốc gia nào dùng quyền tự do ngôn luận để ca ngợi Đảng CSVN và ca ngợi Chính phủ Hà Nội.  Việc ca ngợi, tung hô đó, thậm chí còn được nhận tiền, qua đơn cử lực lượng hàng trăm dư luận viên hàng ngày dốc hết sức lực để làm công việc giống như tác giả Thiện Văn thể hiện qua bài viết “Bảo đảm tự do ngôn luận, chứ không cổ súy ngôn luận tự do”.

Hình minh hoạ. Biểu tình phản đối bên ngoài toà án ở Hà Nội xét xử các nhà hoạt động thuộc Hội Anh Em Dân Chủ hôm 5/4/2018. AFP

“Tự do ngôn luận” và “Ngôn luận tự do”

Tác giả Thiện Văn của bài viết có nhan đề “Bảo đảm tự do ngôn luận, chứ không cổ súy ngôn luận tự do”, đăng trên báo mạng Vietnamnet.vn hôm 31/7, đã trưng dẫn các bằng chứng xác nhận rằng Việt Nam trong nhiều thập niên kiên trì và nỗ lực thực hiện các giải pháp nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận cho người dân.

Tác giả Thiện Văn nhắc lại Quốc hội khóa 1 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cách nay 74 năm đã thông qua Hiến pháp, trong đó Điều 10 hiến định “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.

Điều đáng chú ý mà tác giả Thiện Văn chỉ ra là quyền tự do ngôn luận cho công dân trong Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được ra đời sớm hơn 2 năm so với bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc năm 1948.

Bên cạnh đó, bài viết còn đề cập đến Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí được Quốc hội Việt Nam ban hành năm 2016, có những quy định cụ thể để đảm bảo quyền tự do ngôn luận. Chẳng hạn như Điều 11 Luật Báo chí 2016 quy định công dân Việt Nam được quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân.

Tôi rất tiếc về bài báo đó. Hình như tác giả không hiểu rõ về ngữ pháp tiếng Việt, mà họ đã lẫn lộn về ‘tự do ngôn luận’ và ‘ngôn luận tự do’. Họ đã lầm lẫn trong phép đảo ngữ. Thứ hai, nếu ‘tự do ngôn luận’ và ‘ngôn luận tự do’ là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt thì người đưa ra khái niệm đó, muốn sử dụng thì trước tiên phải định nghĩa rõ ràng sự khác biệt. Đó là hai điểm quan trọng nhất. Như vậy, kể cả về văn phạm tiếng Việt và kể cả về khái niệm mới thì tác giả đều không đạt được. Do đó, bài báo này rơi vào phép ngụy biện mang tên là ‘lý lẽ ngờ nghệch’

- Blogger Nguyễn Ngọc Già


Continue reading

Posted in Tự do ngôn luận | Leave a comment

EU yêu cầu Việt Nam thúc đẩy nhân quyền khi thực thi EVFTA

VOA Tiếng Việt


Vài ngày trước khi Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực từ 1/8/2020, lãnh đạo Liên minh châu Âu đã đề cập đến vấn đề nhân quyền và quyền của người lao động ở Việt Nam.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc điện đàm với Chủ tịch EC Ursula Von Der Leyen ngày 29-07-2020. Photo VNA và Twitter

Chủ tịch Uỷ ban Châu Âu Ursula von der Leyen đã có cuộc điện đàm với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc hôm 29/7.

Bà viết trên Twitter: “Vừa có buổi điện đàm rất tốt với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc. Thỏa thuận thương mại của chúng ta sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/8. Đó là tin tuyệt vời cho nền kinh tế của chúng ta – cần mọi cơ hội để khôi phục sức mạnh của nó. Đây cũng là cơ hội để người dân Việt Nam chứng kiến sự thay đổi tích cực và được hưởng các quyền con người mạnh mẽ hơn”.

Trong một thông cáo báo chí của Uỷ ban châu Âu (EC) hôm 31/7, bà Leyen nhấn mạnh: “Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng thỏa thuận này cũng sẽ trở thành cơ hội để người dân Việt Nam được hưởng một nền kinh tế thịnh vượng hơn và chứng kiến một sự thay đổi tích cực và nhân quyền mạnh mẽ hơn đối với công nhân và công dân ở nước họ”.

Continue reading

Posted in EVFTA, nghiệp đoàn độc lập | Leave a comment

“Sang” mình, hại muôn loài

Lý Minh

Ảnh: Chuyển động Thị trường/Chưa rõ nguồn. Đồ họa: Luật Khoa.

Năm 2016, tôi có một chuyến công tác bằng đường bộ từ Pleiku, thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Gia Lai, thuộc vùng Tây Nguyên, Việt Nam sang Attapeu, một tỉnh nằm ở phía đông nam của Lào, phía đông giáp với dãy Trường Sơn của Việt Nam.

Tôi rất ngạc nhiên khi quan sát sự chuyển tiếp về mật độ của các rừng cây khi đến biên giới của Việt Nam và Lào. Ở bên phía biên giới Việt Nam là các đồi trọc với các cây thưa thớt nhưng khi qua bên phía biên giới Lào là các rừng cây rậm rạp, thân gỗ to.

Những người phá rừng (mà báo chí thường dùng từ lâm tặc để nói về họ) sang Lào để lấy gỗ, sau đó gỗ được mang vào thị trường nội địa Việt Nam để tiêu thụ.

Các thân cây gỗ to được sử dụng để làm nội thất nhà, nội thất trong các loại ô-tô xa xỉ, các vật dụng trang trí. Các loại gỗ quý là loại chất liệu sản phẩm đắt tiền, được nhiều người nghĩ rằng việc sử dụng nó sẽ mang lại sự sang trọng cho không gian, thể hiện quyền lực và giàu sang của ngôi nhà.

Việc sử dụng nội thất và các vật dụng được làm từ các loại gỗ quý đó phổ biến trong suy nghĩ của nhiều người Việt Nam tạo nên một nhu cầu lớn về các thân cây gỗ quý. Theo quy luật kinh tế thị trường, có cầu ắt có cung và nguồn cung đó là từ các cánh rừng nguyên sinh của Việt Nam.

*

Bức ảnh phòng khách được bài trí bằng bộ bàn ghế và cặp lục bình làm từ thân gỗ quý, vốn đang được lan truyền trên mạng với nhiều lời phê phán từ các cư dân mạng, đáng được dùng để minh họa cho bài viết về mối liên hệ giữa niềm tin trong việc bảo vệ môi trường.

Chính giữa phòng khách là một cái bàn gỗ có diện tích và độ dày lớn khiến người xem có cảm giác chiếc bàn được làm từ một thân cây lớn có chu vi vài vòng tay người ôm.

Xung quanh cái bàn gỗ lớn là chín cái ghế gỗ được thiết kế kiểu cách, chạm trổ nhiều hoa văn cầu kỳ, đục đẽo công phu.

Phía sau lưng chủ tọa là hai lục bình gỗ lớn đặt hai bên ghế ngồi của chủ toạ.

Trong suy nghĩ của nhiều người, bộ bàn ghế lớn bằng gỗ nguyên khối cộng với hai lục bình lớn mang lại sự sang trọng cho ngôi nhà, thể hiện sự giàu có và uy thế của gia chủ.

Một trang web bán lục bình thể hiện rõ mục đích của những người mua lục bình về chưng:

“Muốn có được một mẫu lục bình gỗ đẹp người nghệ nhân phải lựa chọn được những khúc gỗ quý đặc ruột để chế tác, gỗ càng nhiều vân đẹp thì giá lộc bình gỗ này sẽ càng cao. Ý nghĩa phong thuỷ của lộc bình khi đặt trong nhà là thể hiện sự quyền quý, cao sang và thu giữ, bảo vệ tài sản cho gia chủ”.

Continue reading

Posted in Môi Trường | Leave a comment

Việt Nam cần tránh đi con đường cụt của Trung Quốc?

LS Ngô Ngọc Trai

Gửi bài cho BBC News Tiếng Việt từ Hà Nội

Các vấn đề xung quanh Trung Quốc đang thu hút sự quan tâm chú ý của toàn thế giới. Ở Việt Nam sự thể càng đặc biệt hơn, khi mô hình phát triển của Việt Nam từ lâu nay cũng rập khuôn theo kiểu Trung Quốc.

Vậy nếu đường lối phát triển của Trung Quốc hiện đang gặp rất nhiều khó khăn thì mô hình của họ có là tương lai cho Việt Nam?

Đường lối nào?

Đầu tiên là cần nhìn ra được đâu là đường lối phát triển của Trung Quốc.

Vài ba năm trước, một dịp tôi mua được một cuốn sách viết về quá trình phát triển hóa rồng của Đài Loan, một dạng sách ưa thích viết về quá trình phát triển của các nước. Cuốn sách có tiêu đề Đài Loan – tiến trình hóa Rồng, vừa hăm hở đọc được vài trang thì tôi đã bỏ cuốn sách và không đọc lại nó cho tới tận bây giờ.

Lý do là mới đọc được vài dòng thì thấy tác giả trước khi đi vào bình luận một vấn đề đã đưa ra những lời xúc xiểm miệt thị, một kiểu như xác định lập trường, sau rồi mới đi vào phân tích chuyên môn. Kiểu hành văn hoàn toàn trái ngược không giống gì với những cách hành văn của các tác giả Âu Mỹ mà tôi vẫn đọc.

Những cuốn sách của các tác giả Âu Mỹ, xa xưa thì như cuốn Của cải của các quốc gia của Adam Smith, gần thì như các cuốn Thế Giới Phẳng, Chiếc Lexus và cây Ô liu, Vì sao các quốc gia thất bại, Sự bí ẩn của tư bản.

Đó đều là những cuốn sách chỉ ra chính sách phát triển đúng đắn đưa đến sự thịnh vượng của các nền kinh tế, chúng đều được hành văn một cách khoa học, sáng sủa, nhân văn, logic và đôi khi hài hước.

Nhờ đọc những sách đó, người đọc có thể nói là sẽ thấm đượm tinh thần khoan dung khoa học của một thứ chủ nghĩa nhân văn sâu sắc, cho nên cách viết của cuốn sách nói trên kia quả là trái ngược.,

Tìm hiểu thì được biết tác giả cuốn sách viết về Đài Loan là một học giả người Trung Quốc công tác tại Đại học Nhân dân Bắc Kinh. Điều đó giúp hình dung phần nào về bầu không khí tri thức và cách thức nhìn nhận sự việc của học giả Trung Quốc.

Để ý kiểm nghiệm lại thì thấy, là người Việt Nam chăm chỉ tìm đọc dòng sách tinh hoa từ khoảng chục năm trở lại đây, tôi không thấy có một tác phẩm đáng đọc nào của tác giả người Trung Quốc.

Không có một tác phẩm mô tả triết lý phát triển nào của các học giả, trong khi 50 năm qua Trung Quốc phát triển thần kỳ từ một nước thế giới thứ ba đến nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.

Các lãnh đạo Trung Quốc cũng không có các cuốn sách dạng hồi ký cho thấy về những chính sách vĩ mô và vi mô đã đưa đến thành tựu phát triển cho Trung Quốc.

Kiểu sách dạng như hồi ký của nhà lãnh đạo Singapore ông Lý Quang Diệu hoặc hồi ký của nhà lãnh đạo Malaysia ông Mahathir Mohamad mà qua đó người đọc thấy được phần nào quá trình phát triển một quốc gia.

Vậy thì nền tảng phát triển của Trung Quốc là gì? Những giá trị con người nào đã đưa đến sự phát triển của Trung Quốc?

Nếu Trung Quốc muốn lãnh đạo thế giới thì phải thuyết phục được tầng lớp tinh hoa tri thức của các nước.

Đằng này, cứ tạm coi tôi là một người thuộc giới trí thức tinh hoa của Việt Nam đi, mà tôi không thấy được thuyết phục bởi triết lý phát triển nhân văn của Trung Quốc, thì thử hỏi Trung Quốc làm sao chứng tỏ được khả năng lãnh đạo thế giới.

Tỷ lệ thất nghiệp ở TQ đã gần chạm ngưỡng lịch sử – và con số thực tế còn lớn hơn nhiều

Continue reading

Posted in Thể chế và lối thoát, Việt - Trung | Leave a comment

Đẩy lùi ngư thuyền của Trung Quốc?

Nguyễn Ngọc Chu

Đối mặt với Trung Quốc trên biển, khó khăn nhất không phải hải quân. Vì hải quân chỉ có tính răn đe để khỏi xảy ra chiến tranh.

Tranh dành thực địa trên biển chỉ có hai lực lượng ra mặt chủ chốt, là hải cảnh và ngư thuyền. Trong đó ngư thuyền là lực lượng chiếm hữu thực địa quan trọng nhất.

Các nước ở Thái Bình dương có biển giáp với biển Trung Quốc luôn là nạn nhân của ngư thuyền Trung Quốc.

Trung Quốc dựa vào lực lượng ngư thuyền đông hơn kiến cỏ của mình, xua đuổi họ đi chiếm lĩnh ngư trường của các nước khác, từ ngoài khơi xa cho đến sát bờ biển nước người. Không ngạc nhiên khi ngư dân Trung Quốc đánh cá tận Nam Mỹ, gần sát bờ của các quốc gia Chile, Argentina.

Nhưng ở Nam Mỹ hay Nam mũi Hảo Vọng của châu Phi, hải quân và hải cảnh Trung Quốc không với tay được. Nạn nhân chính của Trung Quốc chính là Việt Nam, Nhật Bản, Philippines, Malaysia.

I. CHIẾN THUẬT RUỒI BÂU

Nhật Bản mạnh như vậy, lại có liên minh quân sự với Mỹ, mà vẫn rất khó khăn trong đối mặt với Trung Quốc ở biển Nhật Bản. Là bởi vì Trung Quốc ỷ vào số đông mà vận dụng chiến thuật RUỒI BÂU.

Trước khi nói về chiến thuật RUỒI BÂU của Trung Quốc hãy điểm qua tương quan của 2 nước trên biển.

VỀ TRUNG QUỐC

Lực lượng hải quân Trung Quốc

Trung Quốc có lực lượng hải quân, đếm chiến thuyền và tàu ngầm chỉ đứng sau Hoa Kỳ.

Lực lượng Hải quân Trung Quốc (HQTQ), chia thành 3 hạm đội – Bắc Hải, Đông Hải, Nam Hải. Có thể tóm tắt HQTQ qua các số liệu sau:

250.000 người

2 tàu sân bay

70 tàu ngầm (trong đó có 5 chiếc tên lửa đạn đạo chạy năng lượng hạt nhân SSBN, 8 chiếc chạy năng lượng hạt nhân SSN, và 53 chiếc điện- diesel SSK)

14 Tàu khu trục

28 Tàu khinh hạm

35 Tàu hộ vệ tên lửa

119 Tàu tên lửa

58 tàu đổ bộ.

Lực lượng hải cảnh của Trung Quốc:

10 000 người

336 tàu

Lực lượng ngư thuyền Trung Quốc:

220 000 chiếc – không có nước nào sánh được.

VỀ NHẬT BẢN

Thực ra cường quốc hải quân chính là Nhật Bản. Nhật Bản có lịch sử truyền thống hải quân trên cơ Trung Quốc.

Trong thế chiến thứ II, lực lượng Hải quân Nhật Bản (HQNB) như sau:

1 800 000 người

20 tàu chở sân bay

10 tàu sân bay hộ tống

9 thuỷ phi cơ

213 tàu ngầm chiến đấu

3 tàu ngầm chở máy bay

49 tàu ngầm vận tải

3 tàu ngầm bảo vệ

12 tuần dương chiến đấu

44 tàu tuần dương

169 tàu khu trục

178 tàu khu trục hộ tống

Continue reading

Posted in Biển Đông | Leave a comment

Làm thế nào để so sánh dân trí?

Lý Minh

Tác giả Võ Văn Quản trong bài viết Từ COVID-19 nói về “dân trí thấp” có kết luận về dân trí tại Việt Nam “hiểu theo cái nghĩa đen của nó, rất cao. Cao không thua kém gì Hoa Kỳ”.

Là một người đọc sách, biết mình, biết ta khi so sánh với dân trí của các quốc gia phát triển trên thế giới, tôi không đồng ý với kết luận trên, vì điều đó tạo nên sự huyễn hoặc về trình độ dân trí của dân tộc chúng ta trong suy nghĩ của nhiều người khi so sánh với dân trí của các quốc gia khác. Việc đánh giá cao về dân trí của dân tộc cũng gây ra nhiều hệ lụy không kém việc đánh giá thấp dân trí để biện minh cho việc cầm quyền.

Trong bài viết, tác giả sử dụng các hành vi phi lý trí của con người thường xảy ra trong cuộc khủng hoảng COVID-19 như từ chối xét nghiệm, tranh nhau mua khẩu trang, giấy vệ sinh… từ nhiều dân tộc được xem là có dân trí cao ở các quốc gia phát triển để nói rằng trong khủng hoảng các hành vi phi lý trí đó quốc gia nào cũng có, kể cả Việt Nam.

Kinh tế học hành vi đã nghiên cứu và cho thấy rằng con người trên toàn thế giới đôi khi có những quyết định rất phi lý tính, đặc biệt trong những tình huống tác động mạnh đến an toàn của bản thân. Nói như cuốn sách Tư duy nhanh và chậm của nhà tâm lý học từng đạt giải Nobel Kinh tế Daniel Kahneman, bộ não con người chia làm hai phần: một phần suy nghĩ và hành động rất nhanh dựa trên cảm xúc, một phần suy nghĩ và hành động rất chậm dựa trên lý tính. Trong một tình huống mang tính khẩn cấp thì tất cả mọi người tranh nhau vơ vét khẩu trang, hay giấy vệ sinh là điều hoàn toàn có thể hiểu được. Điều đó không liên quan gì đến trình độ dân trí của dân tộc, thứ vốn chịu ảnh hưởng của tư duy chậm.

Tác giả cũng sử dụng tỷ lệ biết chữ và trình độ giáo dục đại học và sau đại học của Việt Nam để dẫn chứng cho việc Việt Nam có trình độ dân trí cao. Theo tôi, việc sử dụng chỉ tiêu đánh giá này không sai nhưng còn nhiều thiếu sót.

Continue reading

Posted in Dân trí | Leave a comment